Hỏi đáp
Thứ 5, Ngày 19/11/2015, 13:00
Hỏi đáp về Ốm đau - Thai sản
Cỡ chữ: Font size: Giảm (A-) Mặc định (A) Tăng (A+)
19/11/2015
HỎI ĐÁP VỀ ỐM ĐAU - THAI SẢN



* Câu hỏi:

 Anh tôi có tham gia BHXH bắt buộc từ năm 2017 đến nay, vợ anh không có việc làm, không tham gia BHXH, tháng 9 năm 2019 vợ anh sinh con nhưng anh chưa được hưởng chế độ thai sản khi vợ sinh con. Xin hỏi anh tôi có được hưởng chế độ khi vợ sinh con không ? Đặng Thị Mỹ Vân, Gò Dầu, Tây Ninh                                             

* Trả lời:

- Về việc nghỉ hưởng chế độ thai sản khi vợ sinh con:

Khoản 2 Điều 34 Luật BHXH số 58/2014/QH13 quy định:

“ Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản như sau:

a) 05 ngày làm việc;

b) 07 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật, sinh con dưới 32 tuần tuổi;

c) Trường hợp vợ sinh đôi thì được nghỉ 10 ngày làm việc, từ sinh ba trở lên thì cứ thêm mỗi con được nghỉ thêm 03 ngày làm việc;

d) Trường hợp vợ sinh đôi trở lên mà phải phẫu thuật thì được nghỉ 14 ngày làm việc.

Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định tại khoản này được tính trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con”.

- Về điều kiện hưởng trợ cấp một lần khi sinh con:

Theo quy định tại Mục a, Khoản 2, Điều 9, Thông tư 59/2015/TT- BLĐTBXH ngày 29/12/2015 của Bộ Lao động Thương binh và xã hội quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc:

 “Đối với trường hợp chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội thì cha phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con”.

Như vậy, anh bạn đủ điều kiện hưởng trợ cấp một lần khi sinh con và không được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo khoản 2, Điều 34, Luật BHXH 2014 vì thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định tại khoản này được tính trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con./.


* Câu hỏi :

            Tôi nghỉ hưởng chế độ thai sản từ ngày 05/12/2018 đến ngày 04/6/2019. Do có thành tích xuất sắc trong công tác, tôi được truy nâng lương trước hạn 12 tháng (từ tháng 12/2018 đến tháng 11/2019). Xin hỏi chế độ thai sản của tôi có được truy lương hay không ? Nguyễn Thị Lệ Hằng, Hòa Thành, Tây Ninh                                              

* Trả lời:

Điều 12 Thông tư số 59/2015/TT- BLĐTBXH ngày 29/12/2015 của Bộ Lao động và Thương Binh xã hội quy định về mức hưởng chế độ thai sản:

“Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội làm cơ sở tính hưởng chế độ thai sản là mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề gần nhất trước khi nghỉ việc. Nếu thời gian đóng bảo hiểm xã hội không liên tục thì được cộng dồn.

Trường hợp lao động nữ đi làm cho đến thời điểm sinh con mà tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi được tính vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi thì mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng trước khi nghỉ việc, bao gồm cả tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi...”

Như vậy, trường hợp công chức nghỉ sinh con, hưởng chế độ thai sản từ tháng 12/2018 và được truy lĩnh nâng lương trước hạn 12 tháng (từ tháng 12/2018 đến tháng 11/2019), thì thời gian truy lĩnh do được nâng lương trước hạn này không được tính để hưởng chế độ thai sản./.


* Câu hỏi:

Tôi đóng BHXH từ tháng 5/2019, tháng 8/2019 vợ tôi sinh con nhưng vợ tôi không có đóng BHXH. Vậy khi vợ tôi sinh, tôi được hưởng chế độ ra sao, có được hưởng 2 tháng lương cơ sở không ? Trần Văn Chiến, Công ty Pou Hung VN                                              

* Trả lời:

Theo khoản 2, Điều 34 Luật BHXH số 58/ 2014/QH13 quy định:

“Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản như sau:

a) 05 ngày làm việc;

b) 07 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật, sinh con dưới 32 tuần tuổi;

c) Trường hợp vợ sinh đôi thì được nghỉ 10 ngày làm việc, từ sinh ba trở lên thì cứ thêm mỗi con được nghỉ thêm 03 ngày làm việc;

d) Trường hợp vợ sinh đôi trở lên mà phải phẫu thuật thì được nghỉ 14 ngày làm việc.

Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định tại khoản này được tính trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con”.

Tại Mục a, Khoản 2, Điều 9, Mục II, Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH quy định về điều kiện hưởng trợ cấp một lần khi sinh con được hướng dẫn cụ thể như sau:

“a) Đối với trường hợp chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội thì cha phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con”.

Như vậy, trường hợp của Bạn mới đóng BHXH được 3 tháng, vợ Bạn không đóng BHXH, khi vợ sinh con, Bạn được nghỉ hưởng chế độ thai sản tùy theo số con sinh ra và tình trạng khi sinh của vợ; chưa đủ điều kiện hưởng trợ cấp một lần 2 tháng lương cơ sở./.


* Câu hỏi:

Chồng tôi có tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp từ tháng 9/2017, tháng 12/2018 không may bị tai nạn lao động chết. Lúc chồng tôi chết, tôi đang mang thai 5 tháng. BHXH cho tôi hỏi: Khi tôi sinh, con tôi có được hưởng trợ cấp gì không? Nếu có thì được trợ cấp như thế nào ? Havinguyen90@gmail.com

(21/3/2019)

* Trả lời:

          Theo quy định tại Điều 67 Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13: Trường hợp người lao động chết do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì thân nhân được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng, trong đó có: Con chưa đủ 18 tuổi; con từ đủ 18 tuổi trở lên nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; con được sinh khi người bố chết mà người mẹ đang mang thai...

          Điều 68 Luật Bảo hiểm xã hội cũng quy định: Mức trợ cấp tuất hằng tháng đối với mỗi thân nhân bằng 50% mức lương cơ sở; trường hợp thân nhân không có người trực tiếp nuôi dưỡng thì mức trợ cấp tuất hằng tháng bằng 70% mức lương cơ sở; Trường hợp khi bố chết mà người mẹ đang mang thai thì thời điểm hưởng trợ cấp tuất hằng tháng của con tính từ tháng con được sinh.

            Như vậy, trường hợp của bạn, khi chồng bạn chết do tai nạn lao động bạn mới mang thai được 5 tháng nên khi sinh con, con bạn sẽ được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng. Thời điểm hưởng trợ cấp được tính từ tháng sinh con./.

* Câu hỏi:

Tôi làm việc ở đơn vị sự nghiệp nhà nước, vợ tôi mới sinh con, theo tôi được biết, vợ sinh thường tôi được nghĩ hậu sản 5 ngày và được hưởng chế độ nghĩ thay sản. như vậy nếu tôi nghĩ theo chế độ thay sản 5 ngày tôi có được hưởng lương tháng đó của cơ quan đủ 100% hay không, hay cơ quan sẽ trừ số ngày nghĩ hậu sản vào lương tháng đó của tôi, xin cơ quan bhxh hướng dẫn ?  

(10/8/2018)                             

* Trả lời:

            Theo Khoản 2 Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 quy định:

            “ Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản như sau:

            a) 05 ngày làm việc;

            b) 07 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật, sinh con dưới 32 tuần tuổi;

            c) Trường hợp vợ sinh đôi thì được nghỉ 10 ngày làm việc, từ sinh ba trở lên thì cứ thêm mỗi con được nghỉ thêm 03 ngày làm việc;

            d) Trường hợp vợ sinh đôi trở lên mà phải phẫu thuật thì được nghỉ 14 ngày làm việc.

            Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định tại khoản này được tính trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con”.

            Khoản 2 Điều 186 Luật lao động số 10/2012/QH13 quy định:

            “Trong thời gian người lao động nghỉ việc được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, thì người sử dụng lao động không phải trả lương cho người lao động”.

            Như vậy, nếu thời gian Bạn nghỉ hưởng chế độ thai sản khi vợ sinh con theo quy định thì thời gian đó sẽ không được hưởng lương tại đơn vị./.



* Câu hỏi:

Xin hỏi về chế độ nghỉ thai sản cho người chồng đang tham gia BHXH thì được hưởng mức lương như thế nào? Làm sao để được hưởng chế độ này Lê Văn Phước, Bến Cầu, Tây Ninh

(01/6/2018)

            * Trả lời:

Theo Khoản 2 Điều 34 Luật BHXH số 58/2014/QH13 quy định:

 “ Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản như sau:

a) 05 ngày làm việc;

b) 07 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật, sinh con dưới 32 tuần tuổi;

c) Trường hợp vợ sinh đôi thì được nghỉ 10 ngày làm việc, từ sinh ba trở lên thì cứ thêm mỗi con được nghỉ thêm 03 ngày làm việc;

d) Trường hợp vợ sinh đôi trở lên mà phải phẫu thuật thì được nghỉ 14 ngày làm việc.

Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định tại khoản này được tính trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con”.

Luong TS.jpg

Trường hợp người lao động đóng BHXH chưa đủ 06 tháng thì lấy mức LBQ tiền lương tháng của các tháng đã đóng BHXH chia cho 24 ngày.

 Ngoài ra theo điều 38 Luật BHXH cũng quy định: “Trường hợp sinh con nhưng chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội thì cha được trợ cấp một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng sinh con cho mỗi con”, với điều kiện người cha phải đóng BHXH từ đủ 06 tháng trở lên trong vòng 12 tháng trước khi sinh con.

Như vậy, nếu người chồng nghỉ việc để chăm sóc vợ sau khi sinh con trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con thì nộp cho người sử dụng lao động (nơi người chồng công tác) các chứng từ như: giấy khai sinh hoặc giấy chứng sinh, giấy chứng nhận phẫu thuật, sinh con dưới 32 tuần tuổi (nếu có) cho người sử dụng lao động để làm thủ tục đề nghị BHXH thanh toán cho người lao động theo quy định nêu trên./.       

 


* Câu hỏi:

Tôi tham gia BHXH từ tháng 3/2016 đến nay. Vợ tôi không tham gia BHXH. Ngày 02/5/2018 vợ tôi sinh con và bị chết sau khi sinh. Vì gia cảnh neo đơn, hiện nay tôi đang phải nghỉ việc không có lương ở nhà chăm sóc con, vậy tôi được hưởng chế độ BHXH như thế nào ?  Lê Văn Phong, Hòa Thành, Tây Ninh


           * Trả lời:

Theo Khoản e Điều 10 Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2015 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc quy định:

“Trường hợp chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết sau khi sinh con hoặc gặp rủi ro sau khi sinh mà không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con theo xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì cha được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi. Mức hưởng chế độ thai sản được tính trên cơ sở mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 06 tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản của người cha”.

Điều 38 Luật BHXH số 58/2014/QH13 cũng quy định: “...Trường hợp sinh con nhưng chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội thì cha được trợ cấp một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng sinh con cho mỗi con”.

Như vậy, trường hợp của Bạn, được nghỉ việc hưởng BHXH cho đến khi con đủ 6 tháng tuổi, mức hưởng một tháng bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 06 tháng trước khi bạn nghỉ việc hưởng chế độ thai sản. Ngoài ra Bạn được hưởng trợ cấp một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng vợ sinh con (2.600.000 đồng)./.          



 * Câu hỏi:

Cơ quan tôi có công nhân nữ trong thời gian nghỉ phép năm bị sẩy thai, được bác sỹ cho nghỉ việc 20 ngày. Hỏi, công nhân đó có được thanh toán tiền BHXH không? Phụ trách nhân sự đơn vị thuộc KCN Trảng Bàng    

(29/3/2018)

 * Trả lời:

Tại công văn số 4831/LĐTBXH-BHXH ngày 17/11/2017 của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội nêu rõ: Theo quy định tại Điều 32, Điều 33 của Luật BHXH thì trong thời gian mang thai, lao động nữ được nghỉ việc để đi khám thai; khi sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý thì lao động nữ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền.

Căn cứ quy định nêu trên, trong thời gian người lao động đang nghỉ phép hàng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương theo quy định của pháp luật lao động thì không giải quyết chế độ thai sản theo quy định tại Điều 32, Điều 33 và chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe theo quy định tại Điều 41 của Luật BHXH. Thời gian nghỉ việc khi sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý ngoài thời gian nghỉ phép hàng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương được tính hưởng chế  độ thai sản theo quy định.

Trường hợp Bạn nêu, những ngày lao động nữ nghỉ việc ngoài thời gian nghỉ phép năm sẽ được thanh toán chế độ BHXH./.

* Câu hỏi:

 Tôi làm bảo vệ cho một cơ quan nhà nước được hơn 4 năm, có đóng BHXH, đầy đủ. Vợ tôi ở nhà nội trợ, không tham gia đóng BHXH. Nghe nói khi vợ tôi sinh con, tôi được hưởng chế độ thai sản. Đề nghị cơ quan BHXH cho biết tôi sẽ được hưởng chế độ như thế nào ?  Trần Thanh Hậu, Phường 1, TP Tây Ninh

(25/12/2017)

* Trả lời:

Tại Khoản 2 Điều 34 Luật BHXH số 58/2014/QH13 quy định:  “Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản như sau:

a) 05 ngày làm việc;

b) 07 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật, sinh con dưới 32 tuần tuổi;

c) Trường hợp vợ sinh đôi thì được nghỉ 10 ngày làm việc, từ sinh ba trở lên thì cứ thêm mỗi con được nghỉ thêm 03 ngày làm việc;

d) Trường hợp vợ sinh đôi trở lên mà phải phẫu thuật thì được nghỉ 14 ngày làm việc.

Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định tại khoản này được tính trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con”.

Ngoài ra, Bạn còn được hưởng trợ cấp một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng sinh con cho mỗi con./.

 
* Câu hỏi:

 Tôi là công nhân của một công ty ở Gò Dầu, tham gia đóng BHXH 8 năm, được công ty cho nghỉ phép năm từ ngày 16/10/2017 đến ngày 21/10/2017, nhưng ngày 18/10 tôi bị bệnh, đi khám bác sỹ cấp giấy cho nghỉ từ 18/10 đến 20/10/2017. Vậy tôi có được thanh toán tiền nghỉ ốm không ? Cao Thị Thủy, Gò Dầu, Tây Ninh 

(20/11/2017)                          

* Trả lời:

             Theo Khoản 4 Điều 4 Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc quy định: “Trường hợp người lao động bị ốm đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động trong thời gian đang nghỉ phép hằng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương theo quy định của pháp luật lao động thì thời gian ốm đau, tai nạn trùng với thời gian nghỉ phép hằng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương không được tính hưởng trợ cấp ốm đau; thời gian nghỉ việc do bị ốm đau, tai nạn ngoài thời gian nghỉ phép hằng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương được tính hưởng chế độ ốm đau theo quy định”.

            Như vậy, trường hợp của Bạn, bị ốm trong thời gian từ 18/10- 20/10 là trong khoảng thời gian nghỉ phép năm, do đó không được thanh toán trợ cấp ốm đau./.

 
* Câu hỏi:

Em tôi có đóng BHXH được 2 năm, mang thai được 8 tháng, do thai yếu nên nghỉ ở nhà chờ sinh. Sau đó thai bị chết lưu. Vậy em tôi được nghỉ chế độ là bao nhiêu ngày ? Võ Thanh Trâm,  Hòa Thành, Tây Ninh 

 

(10/10/2017)                              

* Trả lời:

Điều 33, 34 Luật BHXH số 58/QH13 và Khoản 1, Điều 10 Thông tư số 59/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2015 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc quy định về thời gian hưởng chế độ khi sinh con nêu rõ:

            Lao động nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng. Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản trước khi sinh tối đa không quá 02 tháng. Trong thời gian lao động nữ nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước khi sinh mà thai chết lưu, nếu lao động nữ đã đóng BHXH từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con, thì ngoài chế độ thai sản đối với thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước khi sinh, lao động nữ được nghỉ việc hưởng chế độ thai chết lưu.

            Trường hợp em của Bạn, ngoài thời gian được nghỉ hưởng chế độ thai sản từ ngày chờ sinh con cho đến ngày thai chết lưu, còn được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản tối đa không quá 50 ngày tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần./.    

 
 
* Câu hỏi:

           Hiện tại em ở huyện Gò Dầu và làm nhân viên ở một công ty ở KCN Trảng Bàng. Em có đi khám thai ở bệnh viện Từ Dũ, Bác sĩ của bệnh viện cần làm 1 vài xét nghiệm nên khám thai trong vòng 1 ngày không kịp nên cho phép em nghỉ 2 ngày trong một lần khám thai này. Bệnh viện đã ghi cho em tờ nghỉ khám thai hưởng bảo hiểm là 2 ngày. Nhưng cơ quan BHXH ở huyện Trảng Bàng chỉ duyệt cho em nghỉ 1 ngày, như vậy có hợp lệ và đúng luật không ?

(10/10/2017)

 * Trả lời:

           Tại Khoản 1, Điều 32 Luật BHXH số 58/2014/QH13 quy định về Thời gian hưởng chế độ khi khám thai nêu rõ: “Trong thời gian mang thai, lao động nữ được nghỉ việc để đi khám thai 05 lần, mỗi lần 01 ngày; trường hợp ở xa cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc người mang thai có bệnh lý hoặc thai không bình thường thì được nghỉ 02 ngày cho mỗi lần khám thai”.

            Như vậy, trường hợp của Bạn, nếu khi khám thai, bác sỹ phát hiện thai có bệnh lý hoặc thai không bình thường (Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH được bác sỹ cấp cho nghỉ thể hiện thai có bệnh lý, hoặc thai không bình thường) thì Bạn sẽ được nghỉ 02 ngày cho lần khám thai đó. Nếu bác sỹ không ghi rõ, Bạn sẽ được nghỉ hưởng 01 ngày và BHXH huyện Trảng Bàng duyệt nghỉ 01 ngày là đúng quy định./.

 
* Câu hỏi:

Tôi là công nhân cao su, mới đi làm và tham gia đóng BHXH được 10 tháng nhưng không may bị bệnh phải điều trị bệnh dài ngày. Vậy tôi được nghỉ hưởng chế độ như thế nào?  Một công nhân Công ty cao su Tây Ninh

(14/9/2017)

* Trả lời:

       Tại Khoản 2, Điều 26 Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 quy định về thời gian hưởng chế độ ốm đau nêu rõ:

 

            “Người lao động nghỉ việc do mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành thì được hưởng chế độ ốm đau như sau:

 

            a) Tối đa 180 ngày tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần;

 

            b) Hết thời hạn hưởng chế độ ốm đau quy định tại điểm a khoản này mà vẫn tiếp tục điều trị thì được hưởng tiếp chế độ ốm đau với mức thấp hơn nhưng thời gian hưởng tối đa bằng thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội”.

 

            Trường hợp của Bạn, nếu nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau hết 180 ngày mà vẫn tiếp tục điều trị bệnh thì được nghỉ hưởng tiếp chế độ ốm đau với mức thấp hơn nhưng thời gian hưởng tối đa là 10 tháng.

 

            Như vậy, thời gian nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau của Bạn tối đa là 180 ngày và 10 tháng./.

 

 

 

* Câu hỏi:

 

Tôi công tác trong ngành Y tế, thời gian đóng BHXH được gần 14 năm. Do mắc bệnh cần chữa trị dài ngày nên phải nghỉ việc để điều trị bệnh liên tục từ năm 2016 đến nay. Xin hỏi chế độ ốm đau của tôi được tính như thế nào? Nguyễn Thị Hà, Hòa Thành, Tây Ninh

 

(27/7/2017)

* Trả lời:

             Theo Khoản 2 Điều 26 Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 quy định: “Người lao động nghỉ việc do mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành thì được hưởng chế độ ốm đau như sau:

 

a) Tối đa 180 ngày tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần;

 

b) Hết thời hạn hưởng chế độ ốm đau quy định tại điểm a khoản này mà vẫn tiếp tục điều trị thì được hưởng tiếp chế độ ốm đau với mức thấp hơn nhưng thời gian hưởng tối đa bằng thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội”.

 

Khoản 2 Điều 28 Luật Bảo hiểm xã hội nêu rõ: Trường hợp nghỉ hết thời gian 180 ngày mà người lao động vẫn tiếp tục điều trị thì mức hưởng phụ thuộc vào thời gian đã đóng BHXH, cụ thể:

 

a) Bằng 65% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 30 năm trở lên;

 

b) Bằng 55% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm;

 

c) Bằng 50% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới 15 năm.

 

Trường hợp của Bà, mức hưởng trợ cấp ốm đau trong 180 ngày đầu được tính theo tháng bằng 75% mức tiền lương đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc hưởng BHXH, thời gian còn lại, được tính bằng 50% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc./.

 
  * Câu hỏi:

 Tôi trước đây làm tạp vụ cho một ngân hàng, rồi nghỉ việc ở nhà, sau đó lại chuyển qua làm tại doanh nghiệp tư nhân có ký HĐLĐ 12 tháng (Từ tháng 3/2016-2/2017), tuy nhiên đến tháng 12/2016 tôi sinh con. Xin hỏi chế độ thai sản tôi được hưởng như thế nào? Tháng 2/2017 kết thúc HĐLĐ tôi nghỉ việc luôn thì thời gian nghỉ thai sản có được tính là thời gian tham gia BHXH hay không ? Trần Thu Trang, Hòa Thành, Tây Ninh

(15/02/2017)

* Trả lời:

Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 quy định: Lao động nữ sinh con phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên trong vòng 12 tháng trước khi sinh con.

Mục a, Khoản 2 điều 12 Thông tư số 59/2015/TT-LLĐTBXH ngày 29/12/2015 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quy định: “Trường hợp hợp đồng lao động hết thời hạn trong thời gian người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản thì thời gian hưởng chế độ thai sản từ khi nghỉ việc đến khi hợp đồng lao động hết thời hạn được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội, thời gian hưởng chế độ thai sản sau khi hợp đồng lao động hết thời hạn không được tính là thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội”.

Như vậy, Bạn được nghỉ hưởng chế độ thai sản từ tháng 12/2016 đến tháng 5/2017. Tuy nhiên, thời gian tham gia BHXH của Bạn chỉ được tính từ tháng 3/2016 đến tháng 2/2017. Thời gian từ tháng 3/2017 đến tháng 5/2017 mặc dù thời gian này Bạn đang được nghỉ thai sản nhưng không được tính là thời gian tham gia BHXH vì HĐLĐ đã hết thời hạn từ tháng 2/2017./.

* Câu hỏi: 

Cơ quan tôi có nhân viên nghỉ hưởng chế độ thai sản từ tháng 10/2016. Tháng 01/2017 đến kỳ nâng lương thường xuyên theo quy định. Được biết thời gian hưởng chế độ thai sản được tính là thời gian tham gia BHXH. Vậy thời gian này sẽ được ghi trên mức tiền lương nào ? Phụ trách tổ chức của một cơ quan nhà nước

            (19/01/2017)

* Trả lời:

            Tại Khoản 4 Điều 12 Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2015 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội quy định: Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội, được ghi theo mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản. Trường hợp trong thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản người lao động được nâng lương thì được ghi theo mức tiền lương mới của người lao động từ thời điểm được nâng lương.

            Như vậy, căn cứ quy định nêu trên, thời gian hưởng chế độ thai sản từ tháng 10/2016 đến tháng 12/2016 được tính là thời gian đóng BHXH và được ghi theo mức tiền lương tháng 9/2016; thời gian từ tháng 01/2017 đến tháng 3/2017 được ghi theo mức tiền lương mới nâng từ tháng 01/2017.

 
* Câu hỏi:  

Tôi là công nhân của một công ty TNHH, có đóng BHXH đầy đủ đến nay được 3 năm 4 tháng. Vợ tôi nội trợ, không có tham gia BHXH. Vậy khi vợ tôi sinh, tôi được hưởng những quyền lợi gì về BHXH ? Võ Hùng Lâm, Hòa Thành, Tây Ninh

 (21/12/2016)

* Trả lời:

            Theo quy định tại Khoản 2 Điều 34 Luật BHXH số 58/2014/QH13 thì lao động nam đang đóng BHXH khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản như sau:

a) 05 ngày làm việc;

b) 07 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật, sinh con dưới 32 tuần tuổi;

c) Trường hợp vợ sinh đôi thì được nghỉ 10 ngày làm việc, từ sinh ba trở lên thì cứ thêm mỗi con được nghỉ thêm 03 ngày làm việc;

d) Trường hợp vợ sinh đôi trở lên mà phải phẫu thuật thì được nghỉ 14 ngày làm việc.

Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định tại khoản này được tính trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con.

Ngoài ra, Bạn được nhận trợ cấp một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng sinh con cho mỗi con theo Điều 38 luật BHXH.

 

* Câu hỏi:  

            Tôi hiện là nhân viên nhà nước. Tôi mang thai đều đi khám tư nhân trong giờ hành chính. Vậy BHXH cho tôi hỏi thủ tục để được hưởng chế độ khám thai 5 lần như thế nào.

            Theo quy định cần có sổ khám thai, phiếu khám thai. Vậy có cần xin giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH không ? và cơ sở khám tư nhân có mẫu giấy này không. Nếu khám trên 5 ngày thì cách chọn lọc ngày để kê khai sao cho đúng. 

            Mong Bảo hiểm xã hội trả lời thắc mắc của tôi. Xin cảm ơn

            (Email: nanavmnan@gmail.com)

 

* Trả lời:

1- Về hồ sơ hưởng chế độ khám thai:

            Điều 9 Quyết định số 636/QĐ-BHXH ngày 22/4/2016 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam quy định về hồ sơ và quy giải quyết hưởng các chế độ BHXH nêu rõ:

“Hồ sơ hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ (bao gồm lao động nữ mang thai hộ) đi khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý và người lao động thực hiện các biện pháp tránh thai là giấy ra viện đối với trường hợp điều trị nội trú hoặc giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH (bản chính) đối với trường hợp điều trị ngoại trú...”

2- Về quy định cấp giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH:

Điều 24 Thông tư số 14/2016/TT-BYT ngày 12/5/2016 của Bộ Y tế quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật BHXH thuộc lĩnh vực y tế quy định:

Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cấp giấy phép hoạt động.

Người hành nghề làm việc tại cơ s khám bệnh, chữa bệnh đã đăng ký mẫu chữ ký với cơ quan bảo hiểm xã hội được ký giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội.

Như vậy, theo quy định trên đây, nếu Bạn đi khám thai tại cơ sở y tế tư nhân, mà cơ sở y tế tư nhân đó đã được cấp giấy phép hoạt động (được cơ quan BHXH cấp giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH); và người hành nghề làm việc tại cơ sở khám chữa bệnh cấp giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH có đăng ký mẫu chữ ký với cơ quan BHXH thì Bạn được thanh toán chế độ khám thai theo quy định (không cần nộp sổ khám thai hay phiếu khám thai).

 

* Câu hỏi:

            Tôi đang là giáo viên đứng lớp, hiện đang điều trị bệnh thuộc danh mục bệnh cần điều trị dài ngày. Cho tôi hỏi chế độ tôi được hưởng như thế nào? Một giáo viên ở Hòa Thành - Tây Ninh

 * Trả lời:

            Tại Khoản 2 Điều 26 Luật BHXH số 58/2014/QH13 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016 quy định:  “ Người lao động nghỉ việc do mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành thì được hưởng chế độ ốm đau như sau:

a- Tối đa 180 ngày tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần;

b- Hết thời hạn hưởng chế độ ốm đau quy định tại điểm a khoản này mà vẫn tiếp tục điều trị thì được hưởng tiếp chế độ ốm đau với mức thấp hơn nhưng thời gian hưởng tối đa bằng thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.”

Cũng tại Điều 22 Nghị định 115/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc quy định: “ Người lao động nghỉ việc do mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành đang hưởng chế độ ốm đau trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 và từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 vẫn đang hưởng trợ cấp ốm đau thì được tiếp tục thực hiện chế độ ốm đau theo các quy định trước ngày 01 tháng 01 năm 2016”.

Như vậy, nếu Người lao động nghỉ việc do mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành đang hưởng chế độ ốm đau trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 và từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 vẫn đang hưởng trợ cấp ốm đau thì được tiếp tục thực hiện chế độ ốm đau, không bị khống chế thời hạn hưởng trợ cấp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 26 của Luật bảo hiểm xã hội đã nêu ở trên.

Trong thư, Bạn không nêu rõ Bạn nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau dài ngày trước ngày 01/01/2016 hay sau ngày 01/01/2016. Bảo hiểm xã hội nêu rõ quy định của Luật để Bạn tham khảo./.

 

* Câu hỏi:
            Tôi mới tham gia BHXH từ tháng 2/2016 (vợ tôi không tham gia). Dự kiến tháng 4/2016 vợ tôi sinh con. Xin hỏi tôi có được nghỉ việc hưởng chế độ khi vợ sinh không? Và có được hưởng 2 tháng trợ cấp một lần khi sinh con hay không?    
                                                            Phạm Tiến Danh- Gò Dầu- Tây Ninh
* Trả lời:
            Luật BHXH số 58/2014 quy định:
            * Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản như sau:
            - 05 ngày làm việc;
          - 07 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật, sinh con dưới 32 tuần tuổi;
            - Trường hợp vợ sinh đôi thì được nghỉ 10 ngày làm việc, từ sinh ba trở lên thì cứ thêm mỗi con được nghỉ thêm 03 ngày làm việc;
            - Trường hợp vợ sinh đôi trở lên mà phải phẫu thuật thì được nghỉ 14 ngày làm việc.
            Thời gian nghỉ việc này  được tính trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con.
            * Về trợ cấp một lần khi vợ sinh con, phải đóng BHXH đủ 6 tháng trở lên trong 12 tháng trước khi sinh con.
            Như vậy, trường hợp của Bạn có tham gia BHXH từ tháng 2, vợ sinh tháng 4 nên đủ điều kiện nghỉ hưởng chế độ khi vợ sinh; về trợ cấp một lần, Bạn chưa đủ điều kiện hưởng./.
 
 
* Câu hỏi:
Đề nghị cơ quan BHXH cho biết người lao động tham gia BHXH bắt buộc, khi bị ốm đau, con ốm phải nghỉ việc để điều trị thì được hưởng chế độ như thế nào?
                                                    Một số công nhân KCN Trảng Bàng
* Trả lời:
           Luật BHXH số 58/2014 quy định:
           I-Điều kiện hưởng:
1.Trường hợp bản thân bị ốm đau: Người lao động bị ốm đau, tai nạn (không phải là tai nạn lao động, tai nạn do hủy hoại sức khỏe, do say rượu, sử dụng chất ma túy, tiền chất ma túy),phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền.
2.Trường hợp có con dưới 7 tuổi bị ốm: Phải nghỉ việc để chăm sóc con dưới 07 tuổi bị ốm đau và có xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền.
II-Chế độ hưởng:
1.Trường hợp bản thân bị ốm đau:
Thời gian hưởng: tính theo ngày làm việc.
 
Thoigianhuong.jpg
 

            Mức hưởng:
- Mức hưởng chế độ ốm đau tính theo tháng: = 75% tiền lương tháng đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ ốm (hoặc của tháng mới bắt đầu làm việc, tháng làm việc trở lại mà nghỉ ốm)
Mức hưởng chế độ ốm đau = Tiền lương tháng đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ ốm / 24 ngày X 75% số ngày nghỉ việc được hưởng chế độ ốm đau.
- Mức hưởng chế độ ốm đau đối với người lao động nghỉ việc do mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày bo Bộ Y tế ban hành: Tối đa 180 ngày, tính cả ngày nghỉ lễ, tết, nghỉ hàng tuần.  Nếu vẫn tiếp tục điều trị thì được hưởng tiếp chế độ ốm đau với mức thấp hơn, tối đa bằng thời gian đã đóng BHXH.
 
Muchuong.jpg
 
 2. Trường hợp có con dưới 7 tuổi bị ốm:
Thời gian hưởng: tính theo ngày làm việc, trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia BHXH, thì thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau của mỗi người cha hoặc người mẹ theo quy định.
 
Conduoi7tuoi.jpg
          
 Mức hưởng: như bản thân ốm.
 
III-Hồ sơ hưởng chế độ ốm đau:
1. Bản chính hoặc bản sao giấy ra viện đối với người lao động hoặc con của người lao động điều trị nội trú. Trường hợp người lao động hoặc con của người lao động điều trị ngoại trú phải có giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH.
2. Trường hợp người lao động hoặc con của người lao động KCB ở nước ngoài thì hồ sơ được thay bằng bản dịch tiếng Việt của giấy khám bệnh, chữa bệnh do cơ sở KCB ở nước ngoài cấp.
3. Danh sách người lao động nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau do người sử dụng lao động lập.

* Câu hỏi: 

Tôi bệnh tăng huyết áp+AVM thái dương trái đã can thiệp nội mạch ,có di chứng yếu 1/2 cơ thể bên trái phải đi tập vật lý trị liệu hàng ngày. Tôi xin hỏi tôi có thể xin nghỉ dưỡng bệnh để đi tập vật lý trị liệu được không ? Thủ tục xin nghỉ như thế nào ?
(16/9/2015) 
* Trả lời:
 
Theo quy định tại Điều 8, Quyết định số 01/QĐ-BHXH, ngày 03/01/2014 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam quy định về hồ sơ giải quyết hưởng chế độ ốm đau đối với người lao động như sau:
1.Đối với trường hợp nghỉ ốm do tai nạn rủi ro hoặc mắc các bệnh thông thường:
-  Sổ bảo hiểm xã hội;
- Giấy ra viện (bản chính hoặc bản sao) nếu điều trị nội trú hoặc Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH nếu điều trị ngoại trú (mẫu C65-HD).
2- Đối với trường hợp người lao động mắc bệnh cần chữa trị dài ngày (Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày ban hành kèm theo Thông tư số 34/2013/TT-BYT ngày 28 tháng 10 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế):
- Sổ BHXH;
- Giấy ra viện (bản chính hoặc bản sao) thể hiện điều trị bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày và thời gian nghỉ việc để điều trị bệnh. Đối với trường hợp có thời gian không điều trị nội trú là phiếu hội chẩn (bản sao) hoặc biên bản hội chẩn (bản sao) hoặc bệnh án (bản sao) của bệnh viện hoặc giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội (mẫu số C65-HD), sổ khám chữa bệnh (bản chính hoặc bản sao) do cơ sở y tế có thẩm quyền cấp theo quy định thể hiện điều trị bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày và thời gian phải nghỉ việc để điều trị.
3. Ngoài quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này có thêm Danh sách thanh toán chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe do người sử dụng lao động lập (mẫu số C70a-HD).
Như vậy, trường hợp của bạn nếu chỉ xin nghỉ dưỡng bệnh để tập vật lý trị liệu mà không cung cấp được các giấy tờ theo quy định trên đây thì cơ quan BHXH không có cơ sở để thanh toán chế độ ốm đau cho bạn./.
 
* Câu hỏi:
 
Tôi làm việc tại Công ty Pouhung được hơn 1 năm. Hiện tôi đang mang thai, muốn đi khám khai ở Bác sĩ tư nhân, vậy tôi có nhận được tiền 5 ngày khám thai không? Và nếu tôi nghỉ thai sản 4 tháng, tôi đi làm lại nếu tôi muốn xin nghỉ dưỡng sức thì tôi có nhận được tiền nghỉ dưỡng sức không hoặc sau 6 tháng kể từ ngày tôi nghỉ sanh, thì mới nhận được tiền nghĩ dưỡng sức ? pham_kimthoa2002@yahoo.com
 
* Trả lời:
1/Về thủ tục hồ sơ hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ khi khám thai:
           Theo quy định Mục 1, Điều 9, Quyết định số 01/QĐ-BHXH, ngày 03/01/2014 của BHXHViệt Nam quy định về hồ sơ và quy trình giải quyết hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội:
Hồ sơ giải quyết hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ đi khám thai, lao động nữ bị sảy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu và người lao động thực hiện các biện pháp tránh thai gồm:
            -  Sổ bảo hiểm xã hội.
            -  Giấy ra viện (bản chính hoặc bản sao) hoặc giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội (mẫu số C65-HD) hoặc giấy khám thai (bản chính hoặc bản sao), sổ khám thai (bản chính hoặc bản sao).
Nếu bạn không khám thai ở các cơ sở khám chữa bệnh mà khám ở bác sĩ tư nhân, không cung cấp được các giấy tờ theo quy định trên đây thì cơ quan BHXH không có cơ sở để thanh toán số ngày bạn nghỉ việc đi khám thai theo quy định.
2- Về trợ cấp nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe:
Luật BHXH quy định về điều kiện được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe: Lao động nữ sau thời gian hưởng chế độ khi sinh con  mà sức khỏe còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe.
Sau khi sinh 4 tháng, nếu bạn muốn đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ thai sản theo quy định, phải có xác nhận của cơ sở y tế về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe và được người sử dụng lao động đồng ý thì ngoài tiền lương, tiền công của những ngày làm việc, bạn vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định.
Như vậy, nếu sau khi nghỉ thai sản được 4 tháng, Bạn đủ sức khỏe và đi làm lại (chưa nghỉ hết thời gian quy định là 6 tháng) thì bạn không đủ điều kiện để được hưởng trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe theo quy định./.

 

* Câu hỏi:
Tôi là giáo viên. Vừa rồi tôi được nghỉ chế độ thai sản. Giữa tháng 4 này tôi hết chế độ nghỉ thai sản 06 tháng. Theo tôi được biết Luật BHXH có chế độ nghỉ dưởng phục hồi sức khỏe sau thai sản.
Cho tôi hỏi thủ tục để tôi được nghỉ thêm theo chế độ này gồm những giấy tờ gì? Có cần phải có giấy bệnh viện không? (Nếu phải có giấy bệnh viện thì tôi nghỉ theo chế độ ốm, đau, bệnh chứ làm theo chế độ nghỉ dưởng sức sau thai sản làm gì ?)
Cám ơn nhiều
 (27/3/2015)
* Trả lời:
Luật Bảo hiểm xã hội quy định: Trong khoảng thời gian 60 ngày, tính từ thời điểm lao động nữ trở lại làm việc sau khi hết thời gian hưởng chế độ khi sinh con mà sức khỏe còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe.
Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe trong một năm tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần. Số ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe do người sử dụng lao động và Ban Chấp hành công đoàn cơ sở quyết định, cụ thể như sau:
 - Tối đa 10 ngày/năm nếu sinh đôi trở lên.
 - Tối đa 7 ngày/năm nếu sinh con phải phẫu thuật.
 - Nghỉ 5 ngày/năm cho các trường hợp khác.
Thủ tục hồ sơ đơn vị gửi cơ quan BHXH là: Danh sách người lao động đề nghị hưởng trợ cấp nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản, (mẫu số C70a-HD).
Như vậy, sau khi nghỉ hết thời gian nghỉ thai sản, trong vòng 60 ngày, nếu sức khỏe còn yếu, bạn liên hệ người sử dụng lao động và Ban Chấp hành công đoàn cơ quan để đề nghị được nghỉ hưởng trợ cấp dưỡng sức theo quy định./.

 

Câu hỏi:
Kính gửi BHXH Tây Ninh em có chút thắc mắc về thanh toán chế độ thai sản khi sảy thai mong cơ quan BHXH hướng dẫn:
Em có đọc luật BHXH thì thấy khi sảy thai trên 03 tháng sẽ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản là 40 ngày nhưng nếu e chỉ nghỉ 30 ngày còn 10 ngày còn lại em đi làm bình thường thì có được thanh toán hết chế độ là 40 ngày không, hay cơ quan BHXH sẽ thanh toán theo số ngày em thực nghỉ?
                  Kính mong cơ quan giải đáp giúp. Em xin chân thành cảm ơn (Hương Trần)
 (16/01/2015)
Trả lời:
Điều 30 Luật Bảo hiểm xã hội quy định về thời gian hưởng chế độ khi sẩy thai,nạo, hút thai, thai chết lưu như sau:
“Khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu thì lao động nữ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản mười ngày nếu thai dưới một tháng; hai mươi ngày nếu thai từ một tháng đến dưới ba tháng; bốn mươi ngày nếu thai từ ba tháng đến dưới sáu tháng; năm mươi ngày nếu thai từ sáu tháng trở lên”.
Công văn số 481/BHXH-CSXH ngày 29/01/2013 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam hướng dẫn thực hiện chính sách BHXH, tại điểm 1.2, mục 1, phần II quy định: “ Lao động nữ bị sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu và người lao động khi thực hiện các biện pháp tránh thai thì thời gian tính hưởng chế độ BHXH theo số ngày thực tế người lao động nghỉ việc, nhưng không vượt quá số ngày được nghỉ theo quy định của Luật BHXH”.
Như vậy, theo quy định của Luật BHXH, bạn sẩy thai trên 03 tháng, được nghỉ 40 ngày, tuy nhiên thực tế bạn chỉ nghỉ 30 ngày, sau đó đi làm lại bình thường, do đó thời gian cơ quan BHXH tính hưởng chế độ cho bạn theo số ngày thực tế bạn nghỉ là 30 ngày./.

 

Câu hỏi:
Em tham gia bảo hiểm xã hội được hai năm đến tháng 8/2014 em nghỉ việc do mang thai. Em được dự sinh tháng 3/2015 vậy em có được hưởng trợ cấp thai sản không? Như Hảo nhuhao030396@gmail.com
(24/12/2014) 
Trả lời:
Về điều kiện hưởng chế độ thai sản, Luật Bảo hiểm xã hội quy định: Lao động nữ sinh con và người lao động nhận nuôi con nuôi dưới  4 tháng tuổi phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên trong vòng 12 tháng trước khi sinh con.
            Trường hợp sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi trước ngày 15 của tháng, thì tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi không tính vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.
            Trường hợp sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi từ ngày 15 trở đi của tháng, thì tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi được tính vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.
            Bạn không nêu rõ đóng BHXH đến hết tháng 7 hay hết tháng 8/2014 và không biết sẽ  sinh con vào đầu tháng 3/2015 hay cuối tháng 3/2015. Do đó Bảo hiểm xã hội chỉ nêu quy định của Luật BHXH để bạn tham khảo.
Đề nghị sau khi sinh con, bạn đem sổ BHXH, giấy chứng sinh đến cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện, thành phố nơi cư trú để được xem xét cụ thể.

  

Câu hỏi:
Vợ tui làm tại Công ty Pouhung Tây Ninh tên là Võ Thị Diễm, bị bệnh tim,sinh con khó nên đã sinh mổ vào 14/9/2014 tại BV Từ Dũ. Đã gửi hồ sơ thủ tục đề nghị hưởng chế độ thai sản gần 3 tháng  mà chưa thấy nhận tiền chế độ. Hỏi công ty thì người ta nói nhận hồ sơ rồi khi nào có tiền sẽ chuyển vào thẻ ATM, thủ tục, hồ sơ thai sản đủ điều kiện hết (đóng bhxh 2 năm và đang nghỉ thai sản gần 3 tháng). Cho hỏi khi nào mới nhận được tiền thai sản.
Đỗ Cao Kỳ Nam namnh0c2008@yahoo.com
(04/12/2014)
Trả lời:
            Điều 117 Luật Bảo hiểm xã hội quy định về Giải quyết hưởng chế độ ốm đau, thai sản, trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau ốm đau, thai sản nêu rõ:
- Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ có liên quan từ người lao động quy định tại Điều 112 và Điều 113 của Luật này, người sử dụng lao động có trách nhiệm giải quyết chế độ ốm đau, thai sản cho người lao động.
- Hằng quý, người sử dụng lao động có trách nhiệm nộp hồ sơ của những người lao động đã được giải quyết chế độ ốm đau, thai sản, trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định tại các điều 112, 113 và 116 của Luật này.
- Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm quyết toán trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ.
Trường hợp thai sản của Võ Thị Diễm, Công ty TNHH Pou hung VN đã gửi hồ sơ và Bảo hiểm xã hội Tỉnh đã thẩm định, quyết toán với đơn vị trong tháng 11/2014.
            Đề nghị bạn liên hệ Công ty TNHH Pou hung VN để nhận tiền chế độ thai sản theo quy định.

 

* Câu hỏi:
          Trường hợp chỉ có cha tham gia BHXH mà có con ốm đau dưới 7 tuổi thì cha nghỉ việc chăm sóc con ốm đau có được hưởng BHXH không? nguyenhuong5890@gmail.com
(25/11/2014)
* Trả lời:
Theo quy định của Luật BHXH: Các đối tượng sau đây được hưởng chế độ ốm đau khi bị ốm đau hoặc có con dưới 7 tuổi bị ốm đau có xác nhận của cơ sở y tế phải nghỉ việc để chăm sóc con:
  - Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về công chức, viên chức.
- Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên theo quy định của pháp luật về lao động kể cả cán bộ quản lý, người lao động làm việc trong hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã hưởng tiền công theo hợp đồng lao động từ đủ 3 tháng trở lên.
- Người lao động là công nhân quốc phòng, công nhân công an làm việc trong các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang.      
- Người lao động đã tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà chưa nhận bảo hiểm xã hội một lần trước khi đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng với doanh nghiệp Việt Nam trúng thầu, nhận thầu, công trình ở nước ngoài;

Như vậy, trường hợp chỉ có cha tham gia BHXH mà có con dưới 7 tuổi bị ốm đau có xác nhận của cơ sở y tế phải nghỉ việc để chăm sóc con thì cũng được hưởng chế độ BHXH.  

  
* Câu hỏi:
            Tôi hiện đang làm việc tại công ty TNHH, có tham gia BHXH, BHYT và BHTN đầy đủ. Tôi có một vài thắc mắc mong cơ quan BHXH hướng dẫn cụ thể.
            Tôi bị bệnh (viêm mũi họng,sốt), xin Công ty nghỉ 1 ngày đi khám bệnh tại Bệnh viện đa khoa Dương Minh Châu, khám và cấp thuốc bình thường. Hôm sau, đến Công ty nộp sổ khám bệnh, xin làm giấy được hưởng BHXH thì Công ty bảo phải có mẫu C65-HD mới được hưởng. lần sau, tôi đi khám, xin bệnh cho  giấy mẫu C65-HD, bác si nói khi nào nhập viện mới lấy giấy hoặc bệnh nặng mới cấp giấy, và nhiều anh, chị trong Công ty cũng bị như vậy.
            Xin hỏi như vậy có đúng hay không? Bệnh nặng là bệnh như thế nào? Rõ ràng chúng tôi bệnh nên mới khám nhưng lại không được quyền lợi đó.  Hiền Nguyễn <minoru2050.hnnn@gmail.com
 (06/10/2014)
* Trả lời:
Theo điều 8, mục 1, chương 2 Quyết định số 01/QĐ-BHXH, ngày 03/01/2014 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam quy định về hồ sơ và quy trình giải quyết hưởng các chế độ BHXH, nêu rõ:
“1. Hồ sơ giải quyết hưởng chế độ đối với người lao động ốm đau do tai nạn rủi ro hoặc mắc các bệnh thông thường không thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày và nghỉ việc chăm con ốm, gồm:
1.1. Sổ bảo hiểm xã hội.
1.2. Một trong các giấy tờ sau:
a) Giấy ra viện (bản chính hoặc bản sao) trong trường hợp người lao động hoặc con của người lao động điều trị nội trú;
b) Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội trong trường hợp người lao động hoặc con của người lao động điều trị ngoại trú (mẫu số C65-HD) hoặc giấy tờ khám chữa bệnh (bản chính hoặc bản sao), sổ khám chữa bệnh của con (bản chính hoặc bản sao) thể hiện đầy đủ thông tin về họ tên của người mẹ hoặc người cha; tên, tuổi của con, số ngày cần nghỉ chăm sóc con...”
Thông tư liên tịch số 11/1999/TTLT-BYT-BHXH, ngày 22/6/1999 của Bộ Y tế-Bảo hiểm xã hội Việt Nam hướng dẫn các cơ sở khám, chữa bệnh cấp Giấy chứng nhận nghỉ việc cho người bệnh tham gia BHXH quy định trách nhiệm, quyền hạn của các y, bác sỹ trong việc cấp giấy chứng nhận cho người lao động chữa bệnh ngoại trú. Theo đó, các y, bác sỹ có đăng ký chữ ký với Sở Y tế và Bảo hiểm xã hội tỉnh được quyền cho người lao động nghỉ việc từ 01- 10 ngày (tùy theo tuyến xã, huyện, tỉnh) để điều trị bệnh.
Như vậy, để được hưởng chế độ ốm đau nếu điều trị ngoại trú, ngoài mẫu C65-HD, các giấy tờ khám chữa bệnh thể hiện rõ tên bệnh, thời gian nghỉ từ ngày.....đến hết ngày..., có đầy đủ chữ ký của bác sỹ và có đóng dấu của cơ sở khám chữa bệnh cũng được xem là hợp lệ để được hưởng chế độ ốm đau.  
 
* Câu hỏi:
Đề nghị cho biết thủ tục hồ sơ giải quyết hưởng chế độ ốm đau đối với người lao động mắc bệnh cần chữa trị dài ngày như thế nào?
(31/8/2014)
* Trả lời:
Theo Quyết định số 01/QĐ-BHXH ngày 03/01/2014 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam về việc ban hành quy định về hồ sơ và quy trình giải quyết hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội: Tại điểm 2 Điều 8, Mục 1, Chương 2 quy định: 
 Hồ sơ giải quyết hưởng chế độ ốm đau đối với người lao động mắc bệnh cần chữa trị dài ngày, gồm:
- Sổ bảo hiểm xã hội.
- Giấy ra viện (bản chính hoặc bản sao) thể hiện điều trị bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày và thời gian nghỉ việc để điều trị bệnh. Đối với trường hợp có thời gian không điều trị nội trú là phiếu hội chẩn (bản sao) hoặc biên bản hội chẩn (bản sao) hoặc bệnh án (bản sao) của bệnh viện hoặc giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội (mẫu số C65-HD), sổ khám chữa bệnh (bản chính hoặc bản sao) do cơ sở y tế có thẩm quyền cấp theo quy định thể hiện điều trị bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày và thời gian phải nghỉ việc để điều trị.
Trường hợp khám chữa bệnh ở nước ngoài thì thay bằng bản dịch tiếng Việt được chứng thực (bản chính hoặc bản sao) của giấy khám, chữa bệnh do cơ sở y tế nước ngoài cấp thể hiện điều trị bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày. Nếu bị ốm đau phải nghỉ việc trong thời gian được cử đi học tập, làm việc ở nước ngoài thì có thêm quyết định (bản chính hoặc bản sao) của cấp có thẩm quyền cử đi học tập, làm việc ở nước ngoài.
Ngoài quy định nêu trên có thêm Danh sách thanh toán chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe do người sử dụng lao động lập (mẫu số C70a-HD).
 
* Câu hỏi:
            Tôi tham gia BHXH từ tháng 8/2012 cho tới 20/5/2014 thì tôi có thai được 4 tháng và tôi ngưng không tham gia đóng BHXH nữa. Bác sĩ dự đoán tôi sinh con vào ngày 15/11/2014. Vậy trường hợp của tôi có được trợ cấp thai sản không ? Hằng Cao hangcaobep@gmail.com
(30/7/2014)
* Trả lời:
            Về điều kiện hưởng chế độ thai sản, Luật Bảo hiểm xã hội có quy định: Lao động nữ sinh con và người lao động nhận nuôi con nuôi dưới  4 tháng tuổi phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên trong vòng 12 tháng trước khi sinh con.
            Trường hợp sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi trước ngày 15 của tháng, thì tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi không tính vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.
            Trường hợp sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi từ ngày 15 trở đi của tháng, thì tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi được tính vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.
            Bạn đóng BHXH từ tháng 8/2012 đến 20/5/2014, dự kiến sinh con 15/11/2014. khoảng thời gian 12 tháng trước khi sinh con được tính từ tháng 12/2013 đến tháng 11/2014.
            Như vậy, nếu tháng 5/2014 bạn có đóng BHXH và sinh con vào ngày 15/11/2014, bạn sẽ được hưởng trợ cấp thai sản.
            Tuy nhiên,  được hưởng chế độ thai sản hay không, sau khi sinh con, bạn liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội nơi cư trú để được hướng dẫn lập thủ tục hồ sơ và sau khi xem xét hồ sơ, cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ giải quyết chế độ cho bạn theo quy định.
 
* Câu hỏi:
          Cho tôi hỏi hiện nay tôi là giáo viên đứng lớp. Nhưng do lấy chồng mà không có con nay tôi muốn xin con nuôi thì tôi phải làm thủ tục như thế nào. (đứa bé hiện chưa chào đời). Và cho tôi hỏi sau khi làm thủ tục là con của tôi thì tôi có được hưởng chế độ bảo hiểm như một bà mẹ nuôi con nhỏ không? Có được nghỉ 6 tháng không? Xin cám ơn. (Cá nhân / Địa chỉ: tổ 2- Suối Mây-Thạnh Bắc -Tân Biên Tây Ninh)
(30/7/2014)
 * Trả lời:
          - Về chế độ đối với  lao động nữ nhận nuôi con nuôi:
          Bộ luật Lao động được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2012 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2013.  Điều 159 Bộ luật Lao động nêu rõ: "Thời gian nghỉ việc khi khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu, phá thai bệnh lý, thực hiện các biện pháp tránh thai, chăm sóc con dưới 07 tuổi ốm đau, nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi, lao động nữ được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội."
          Như vậy, kể từ ngày 01/5/2013 lao động nữ nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi sẽ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.
          Trường hợp của Chị nếu tham gia BHXH từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi nhận nuôi con nuôi sẽ được nghỉ hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi và được hưởng các chế độ BHXH theo quy định.
          - Về thủ tục để xin con nuôi, đề nghị Chị liên hệ ngành Tư pháp để được hướng dẫn cụ thể.
 
* Câu hỏi:
            Đề nghị Bảo hiểm xã hội cho biết người lao động nhận nuôi con nuôi sơ sinh được hưởng chế độ như thế nào? (cụ thể cho cả lao động nam và lao động nữ).
(23/6/2014)
* Trả lời:
            Điều 32 Luật BHXH quy định về thời gian hưởng chế độ khi nhận nuôi con nuôi: Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi thì được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ bốn tháng tuổi.
            Tại công văn số 1683/LĐTBXH-BHXH ngày 21/5/2014 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội về việc thực hiện chế độ đối với người lao động nhận nuôi con nuôi nêu rõ:  "Bộ luật Lao động được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2012 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2013. Theo quy định tại Điều 159 Bộ luật Lao động thì thời gian nghỉ việc khi khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu, phá thai bệnh lý, thực hiện các biện pháp tránh thai, chăm sóc con dưới 07 tuổi ốm đau, nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi, lao động nữ được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
            Như vậy, kể từ ngày 01/5/2013 lao động nữ nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi sẽ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi. Đối với lao động nam nhận nuôi con nuôi vẫn thực hiện theo Điều 32 Luật Bảo hiểm xã hội".
 
 
* Câu hỏi:
            Trường hợp nữ công nhân bị thai trứng, thai ngoài tử cung, được bác sỹ ghi trong giấy là cho nghỉ theo chế độ BHXH. Vậy chế độ ở đây là chế độ ốm đau hay chế độ thai sản ? Một số cán bộ phụ trách nhân sự KCN Trảng Bàng.
(23/6/2014)
* Trả lời:
            Công văn số 1967/BYT-BH ngày 10/4/2013 của Bộ Y tế về việc xác định bệnh làm căn cứ giải quyết chế độ BHXH nêu rõ: "Các trường hợp mang thai trứng hoặc có thai ngoài tử cung là các trường hợp bệnh lý". Do đó đối với trường hợp mang thai trứng, thai ngoài tử cung thì thực hiện theo chế độ ốm đau (trong đó trường hợp thai trứng là bệnh cần chữa trị dài ngày theo quy định tại Thông tư số 34/2013/TT-BYT ngày 28/10/2013 của Bộ Y tế về việc ban hành danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/12/2013)./.
 
* Câu hỏi:
                Tôi làm việc ở công ty tư nhân,  tham gia BHXH liên tục từ tháng 8/ 2013 đến nay, dự kiến đầu tháng 6 sẽ sinh con (sinh đôi theo kết quả siêu âm). Mức lương đóng BHXH từ trước đến nay như sau:
                -Từ tháng 8/2013- 02/2014: 3.450.000đ/tháng.
                -Từ tháng 3/2013- 6/2014: 3.740.000đ/tháng.
                Đề nghị BHXH cho tôi được biết khi nghỉ thai sản tôi được hưởng chế độ như thế nào, mức lương cụ thể ra sao? (Trương Hương Ly, Hiệp Thạnh, Gò Dầu, TN)
 (03/6/2014)
* Trả lời:
          Theo quy định của Luật BHXH: Mức hưởng chế độ thai sản bằng 100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc, ngoài ra lao động nữ sinh con hoặc người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi được trợ cấp một lần bằng 2 tháng lương tối thiểu chung cho mỗi con. Và Bộ luật lao động sửa đổi năm 2012 quy định: Từ 01/5/2013, lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con là 06 tháng. trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ 02 trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.
Như vậy, nếu sinh đôi bạn được nghỉ 07 tháng. mức hưởng cụ thể như sau:
Mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc bằng:  [(3.450.000x3)+ (3.740.000x3)] / 6 =  3.595.000 đ/tháng.
3.595.000 x 7 = 25.165.000đ+2.300.000 (2 tháng lương TTC) = 27.465.000đ
 
* Câu hỏi:
            Đề nghị cho biết thủ tục hồ sơ giải quyết hưởng chế độ ốm đau đối với người lao động mắc bệnh cần chữa trị dài ngày như thế nảo?
 (29/5/2014)
* Trả lời:
            Theo Quyết định số 01/QĐ-BHXH ngày 03/01/2014 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam về việc ban hành quy định về hồ sơ và quy trình giải quyết hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội: Tại điểm 2 Điều 8, Mục 1, Chương 2 quy định:
 Hồ sơ giải quyết hưởng chế độ ốm đau đối với người lao động mắc bệnh cần chữa trị dài ngày, gồm:
- Sổ bảo hiểm xã hội.
- Giấy ra viện (bản chính hoặc bản sao) thể hiện điều trị bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày và thời gian nghỉ việc để điều trị bệnh. Đối với trường hợp có thời gian không điều trị nội trú là phiếu hội chẩn (bản sao) hoặc biên bản hội chẩn (bản sao) hoặc bệnh án (bản sao) của bệnh viện hoặc giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội (mẫu số C65-HD), sổ khám chữa bệnh (bản chính hoặc bản sao) do cơ sở y tế có thẩm quyền cấp theo quy định thể hiện điều trị bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày và thời gian phải nghỉ việc để điều trị.
Trường hợp khám chữa bệnh ở nước ngoài thì thay bằng bản dịch tiếng Việt được chứng thực (bản chính hoặc bản sao) của giấy khám, chữa bệnh do cơ sở y tế nước ngoài cấp thể hiện điều trị bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày. Nếu bị ốm đau phải nghỉ việc trong thời gian được cử đi học tập, làm việc ở nước ngoài thì có thêm quyết định (bản chính hoặc bản sao) của cấp có thẩm quyền cử đi học tập, làm việc ở nước ngoài.
           - Ngoài quy định nêu trên có thêm Danh sách thanh toán chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe do người sử dụng lao động lập (mẫu số C70a-HD)./.
 
* Câu hỏi:
          Cho hỏi chế độ thai sản đối với người sinh con ra nhưng trẻ chết  sau sinh vài giờ như thế nào ? Có được nghỉ 6 tháng hay không và tiền bảo hiểm có được nhận hay không ạ ?
 (17/4/2014)
* Trả lời:
          Theo khoản 2 Điều 15 Nghị định số 152/2006/NĐ-CP, ngày 22/12/2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc quy định:
           Trường hợp sau khi sinh con, nếu con chết thì thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản của lao động nữ như sau:
          - Con dưới 60 ngày tuổi bị chết thì mẹ được nghỉ việc 90 ngày tính từ ngày sinh con;
          - Con từ 60 ngày tuổi trở lên bị chết thì mẹ được nghỉ việc 30 ngày tính từ ngày con chết.
          Thời gian nghỉ việc quy định tại khoản này không vượt quá thời gian nghỉ sinh con quy định tại Điểm 1, Điều 157 Bộ luật lao động ( kể từ ngày 01/5/2015,  lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con là 06 tháng. Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ 02 trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng. Thời gian nghỉ trước khi sinh tối đa không quá 02 tháng).
          Trường hợp của bạn, sau khi sinh vài giờ con bị chết, bạn được nghỉ hưởng chế độ BHXH 90 ngày tính từ ngày sinh con.
 

 

 * Câu hỏi:

Tôi nghỉ việc 9/2013 và đang hưởng thất nghiệp được 6 tháng. trong thời gian hưởng thất nghiệp tôi có thai. Vậy tôi muốn đóng BHXH vào sổ BHXH tiếp tục không? làm sao tôi đóng BHXH và được hưởng chế độ thai sản?
 (20/3/2014)
 * Trả lời:
            Tại khoản 2 Điều 14 Nghị định số 152/2006/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc quy định về điều kiện hưởng chế độ thai sản: "Lao động nữ sinh con và người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi phải đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi".
            Như vậy, trường hợp của bạn muốn đóng tiếp BHXH để được hưởng chế độ thai sản khi sinh con bạn phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 6 tháng trở lên trong vòng 12 tháng trước khi sinh con.
            Bạn có thể liên hệ trực tiếp với cơ quan BHXH để được tư vấn cụ thể hơn.

 

* Câu hỏi:
            Tôi hiện là nhân viên kế toán cho một công ty TNHH, nghỉ sinh con tháng 01/2013. Được biết theo chế độ tôi được nghỉ 6 tháng, tuy nhiên do yêu cầu công việc tôi phải đi làm sớm. Xin hỏi như vậy tôi được hưởng chế độ như thế nào ? Nguyễn Thị Bích Tuyền, Khu công nghiệp Trảng Bàng.
(17/3/2014)
* Trả lời:
            Theo khoản 4, Điều 157 Bộ Luật lao động sửa đổi năm 2012 quy định: Trước khi hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định là 6 tháng, nếu có nhu cầu, có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe của người lao động và được người sử dụng lao động đồng ý, lao động nữ có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất được 4 tháng.
            Trong trường hợp này, ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
            Như vậy, nếu đáp ứng được các yêu cầu trên, bạn có thể đi làm trước 2 tháng và vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định.
 

* Câu hỏi:

            Tôi làm việc cho Công ty từ tháng 02/2013 nhưng đến tháng 3/2013 thì tôi mang thai và vẫn tiếp tục làm việc đến tháng 12/2013 thì tôi sinh con và đang nghỉ thai sản. tính ra thời gian tham gia BHXH của tôi đã được 10 tháng trong vòng 12 tháng trước khi tôi sinh con. Vì công ty quy định không được sinh con trong 1 năm đầu tiên làm việc. Xin hỏi, tôi có được nhận tiền trợ cấp thai sản không? Và tôi sẽ được nhận số tiền là bao nhiêu? (lương của tôi là 2.640.000đồng). Thu Minh Vo- thuminh92@gmail.com
(20/02/2014)
* Trả lời:
            Luật Bảo hiểm xã hội quy định về điều kiện hưởng và mức hưởng chế độ thai sản như sau:
             * Điều kiện hưởng:
          Lao động nữ mang thai; lao động nữ sinh con; người lao động nhân nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi; người lao động đặt vòng tránh thai, thực hiện các biện pháp triệt sản. Trong đó lao động nữ sinh con, người lao động nhận nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian mười hai tháng trước khi sinh con hoặc nhân nuôi con nuôi.
            * Mức hưởng:
            Người lao động hưởng chế độ thai sản theo quy định tại các điều 29, 30, 31, 32 và 33 của Luật này thì mức hưởng bằng 100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của sáu tháng liền kề trước khi nghỉ việc.
            * Về thời gian hưởng:  Theo quy định của Bộ luật lao động đã được sửa đổi năm 2012 thì kể từ ngày 01/5/2013 lao động nữ được nghỉ việc trước và sau khi sinh con là 6 tháng.
            Trường hợp của bạn theo qui định của Luật Bảo hiểm xã hội là đủ điều kiện được hưởng chế độ thai sản. Còn số tiền cụ thể của bạn sẽ được cơ quan Bảo hiểm xã hội thẩm định và quyết toán khi nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ của Công ty  bạn gửi đến theo quy định.
 
            Việc Công ty của  bạn có quy định trong 1 năm đầu tiên thì không được sinh con. Vấn đề này không thuộc phạm vi trách nhiệm của Bảo hiểm xã hội tỉnh Tây Ninh.
 

 * Câu hỏi:

       Một số đơn vị sử dụng lao động khu công nghiệp Trảng Bàng hỏi? Do đặc thù của các đơn vị là may gia công hàng xuất khẩu, số lao động nữ chiếm trên 90%, số tiền đơn vị giữ lại 2% nhiều lúc không đủ chi trả chế độ ốm đau, thai sản. Có thể cho phép đơn vị được giữ lại số kinh phí đủ chi trả chế độ cho người lao động được không? Đề nghị Bảo hiểm xã hội hướng dẫn giải quyết hưởng chế độ ốm đau, thai sản để đảm bảo quyền lợi cho người lao động ?
(14/02/2014)
* Trả lời:
       Điểm a, khoản 1, Điều 92 Luật Bảo hiểm xã hội quy định: Người sử dụng lao động giữ lại 2% tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội để chi trả kịp thời cho người lao động đủ điều kiện hưởng các chế độ ốm đau, thai sản và thực hiện quyết toán hàng quý với tổ chức bảo hiểm xã hội.
       Điều 117, 118 Luật Bảo hiểm cũng quy định: Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ của người lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm giải quyết chế độ ốm đau, thai sản cho người lao động. Và tổ chức Bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ của đơn vị sử dụng lao động.
        Căn cứ quy định trên, số kinh phí 2% trích giữ lại để đơn vị chủ động thanh toán kịp thời cho người lao động, sau đó tập hợp hồ sơ đã thanh toán gửi cơ quan bảo hiểm xã hội để quyết toán.
         Như vậy, nếu kinh phí giữ lại 2% không đủ chi, đơn vị sử dụng lao động gửi văn bản đề nghị cơ quan Bảo hiểm xã hội tạm ứng kinh phí bổ sung để chi trả kịp thời cho người lao động, đơn vị không được giữ lại trên 2 %.
  
* Câu hỏi:
            Tôi phụ trách nhân sự của một công ty TNHH, khu công nghiệp Trảng Bàng. Xin đề nghị Bảo hiểm xã hội Tây Ninh nói rõ cách tính lương bình quân để tính chế độ thai sản. Ví dụ Công ty có người sinh 01/12/2013 và người sinh 30/12/2013 cách tính lương bình quân có giống nhau hay không ? (Phạm Thị Minh, Khu công nghiệp Trảng Bàng).
(07/02/2014)
* Trả lời:
            Điều 16 nghị định 152/2006/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội quy định:
            "Mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội làm cơ sở tính hưởng chế độ thai sản theo khoản 1 Điều 35 Luật Bảo hiểm xã hội là mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc.
            Trường hợp người lao động đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ 6 tháng thì mức hưởng chế độ thai sản khi đi khám thai, khi sẩy thai, nạo, hút hoặc thai chết lưu, thực hiện các biện pháp tránh thai theo quy định tại các Điều 29, 30 và Điều 33 Luật Bảo hiểm xã hội là mức bình quân tiền lương, tiền công tháng của các tháng đã đóng bảo hiểm xã hội".
            Công văn số 481/BHXH-CSXH ngày 29/01/2013 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam hướng dẫn thực hiện chính sách BHXH cũng nêu rõ:
             "Trường hợp người lao động sinh con, nhận nuôi con nuôi, khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu, thực hiện các biện pháp tránh thai từ ngày thứ 15 trở đi của tháng mà tháng đó có đóng BHXH thì bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH tính hưởng trợ cấp thai sản gồm cả tiền lương, tiền công đóng BHXH của  tháng đó.
            Như vậy, người sinh ngày 01/12/2013 thì tính lương bình quân 6 tháng liền kề là từ tháng 6,7,8,9,10,11/2013; người sinh ngày 30/12/2013 tính lương bình quân từ tháng 7,8,9,10,11,12/2013.
 
* Câu hỏi:
            Vợ tôi đang làm việc tại một công ty may ở Hòa Thành, vợ tôi ký hợp đồng từ tháng 7/2013 nhưng đến tháng 8/2013 thì vợ tôi mang thai và dự sinh là tháng 5/2014. Vì công ty tôi có quy định là trong một năm đầu tiên thì không được sinh con, nếu sinh con trước 1 năm thì sẽ không được nhận tiền trợ cấp thai sản. Vậy xin hỏi, vợ tôi có được hưởng chế độ thai sản và có được nhận tiền trợ cấp thai sản không? Phuquoc2308@gmail.com
 (23/01/2014)
* Trả lời:
            Luật Bảo hiểm xã hội quy định về điều kiện hưởng chế độ thai sản như sau:
            Lao động nữ mang thai; lao động nữ sinh con; người lao động nhân nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi; người lao động đặt vòng tránh thai, thực hiện các biện pháp triệt sản. Trong đó lao động nữ sinh con, người lao động nhận nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian mười hai tháng trước khi sinh con hoặc nhân nuôi con nuôi.
            Trường hợp vợ bạn nếu đủ điều kiện nêu trên sẽ được hưởng chế độ thai sản. Cơ quan Bảo hiểm xã hội sẽ quyết toán số tiền trợ cấp thai sản khi nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ của công ty vợ bạn gửi đến theo quy định.
            Việc công ty của vợ bạn có quy định trong 1 năm đầu tiên thì không được sinh con như vậy có trái pháp luật không? Vấn đề này không thuộc phạm vi trách nhiệm của Bảo hiểm xã hội Tây Ninh.
 

 * Câu hỏi :

Tôi tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện từ năm 2012. Đến tháng 4/2014 nay tôi chuẩn bị sinh em bé. Vậy tôi có được hưởng chế độ nào từ Bảo hiểm xã hội không. xin cảm ơn và trân trọng kính chào. (Người hỏi : nguyen thi lan / Địa chỉ: ben cau / Ngày hỏi: 15/01/2014 09:04:45 AM )
(21/01/2014) 
* Trả lời:
Theo qui định của Luật Bảo hiểm xã hội, tại Chương IV- về Bảo hiểm xã hội tự nguyện thì quyền lợi được hưởng của đối tượng khi tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện chỉ có hai chế độ là hưu trí và tử tuất. Trường hợp bạn hỏi về chế độ thai sản khi tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện, không có trong qui định của Luật Bảo hiểm xã hội.

 

* Câu hỏi:
          Tôi làm việc tại Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh, tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 5/2011 đến ngày 12/01/2013 tôi nghỉ hậu sản đến 12/8/2013 tôi đi làm lại (tôi được nghỉ 7 tháng do sinh đôi). Vậy tôi được hưởng tiền thai sản là bao nhiêu? xin cho tôi biết cụ thể, bậc lương của tôi là 1,86.  (doan tam doantamhth81@gmail.com)
 (31/12/2013)
* Trả lời:
          Điều 16 nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ quy định: "Mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội làm cơ sở tính hưởng chế độ thai sản theo khoản 1 Điều 35 Luật Bảo hiểm xã hội là mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc".
          Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30/01/2007 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội; công văn số 54/BHXH-CSXH ngày 09/01/2009 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam hướng dẫn thực hiện chế độ thai sản:
           Theo đó: Nếu bậc lương bình quân 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản của bạn là: 1.86 thì số tiền thai sản của bạn được tính như sau:
          * Tiền lương của 7 tháng nghỉ thai sản:
          Trong đó:
          - Ngày lẻ đầu: Từ 12/01/2013 đến  31/01/2013: 19 ngày
                (1,86 x 1.050.000đ): 26 ngày x 19 ngày = 1.427.200đ.
          - Ngày lẻ cuối: Từ 01/8/2013 đến 11/8/2013 = 11 ngày
                ( 1,86 x 1.150.000đ): 26 ngày x 11 ngày = 905.000đ
          - 05 tháng tính theo lương 1.050.000đ (từ 01/01/2013 đến 30/6/2013)
                1,86 x 1.050.000đ x 05 tháng = 9.765.000đ
          - 01 tháng tính theo lương 1.150.000đ (từ 01/7/2013 đến 31/7/2013)
                1.86 x 1.150.000 x 01 tháng = 2.139.000đ
          * Tiền trợ cấp một lần khi sinh con:
                1.050.000d x 4 tháng = 4.200.000đ
          Như vậy, tổng cộng số tiền bạn được hưởng trong thời gian 7 tháng do sinh đôi ( từ 12/01/2013 đến 11/8/2013) là:
                14.236.200 + 4.200.000đ =18.436.200đ

 

 * Câu hỏi:

            Cơ quan tôi có một số nữ công nhân nghỉ thai sản đến hết tháng 6/2013, đến tháng 7/2013 đi làm lại nhưng do sức khỏe yếu nên được BCH Công đoàn xét cho nghỉ hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe. Xin hỏi ngành BHXH mức hưởng trợ cấp này được tính trên cơ sở lương tối thiểu chung là 1.050.000 đồng hay 1.150.000 đồng. Xin cho ví dụ cụ thể? (Cán bộ phụ trách nhân sự Công ty Việt Nam- Mộc Bài)
 
* Trả lời:
            Theo mục 3 công văn số 4409/ BHXH-CSXH, ngày 06/11/2013 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam quy định: Mức trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau, thai sản và TNLĐ- BNN tính theo mức lương tối thiểu chung hoặc mức lương cơ sở tại tháng người lao động nghỉ việc hưởng trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe.
            Như vậy, nếu lao động nữ nghỉ hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe trong tháng 7/2013 thì mức hưởng trợ cấp được tính trên cơ sở lương tối thiểu chung là 1.150.000 đồng.
           
            Ví dụ: Chị Nguyễn Thị A sinh thường, được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe tại gia đình từ ngày 05/7/2013 đến hết ngày 09/7/2013, mức hưởng được tính  như sau:
 
            05 ngày x 1.150.000 đồng x 25% = 1.437.500 đồng
 
* Câu hỏi:
            Tôi tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế được 20 năm, xin con nuôi dưới 1 tháng tuổi được hưởng chế độ như thế nào ? Nguyễn Thị Út, Trường MN Thạnh Đức, Gò Dầu.
 (11/11/2013)           
* Trả lời:
            Luật Bảo hiểm xã hội quy định: Lao động nữ sinh con và người lao động nhân nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi nếu có đóng BHXH từ đủ sáu tháng trở lên trong vòng mười hai tháng trước khi sinh con hoặc nhân nuôi con nuôi thì được hưởng chế độ thai sản. Nếu trường hợp người lao động nhận nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi nhưng không nghỉ việc để chăm sóc con thì chỉ được hưởng trợ cấp một lần bằng hai tháng lương tối thiểu chung tại thời điểm người lao động nhận nuôi con nuôi.
 
            Chị đã đóng BHXH được 20 năm, như vậy, nếu chị nghỉ việc để chăm sóc con thì được hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ bốn tháng tuổi (hưởng 100% tiền lương và hưởng trợ cấp một lần bằng hai tháng tiền lương tối thiểu chung); Trường hợp chị không nghỉ việc thì chỉ chỉ được hưởng trợ cấp một lần bằng hai tháng lương tối thiểu chung tại thời điểm chị nhận nuôi con nuôi.
  
* Câu hỏi:
Hai vợ chồng tôi công tác trên 10 năm, đều là công chức nhà nước, có 2 con sinh đôi được 10 tháng tuổi, thông thường khi bệnh 2 cháu đều bệnh cùng lượt. Tháng 9 vừa qua, 2 cháu đều bệnh phải nhập viện và hai vợ chồng tôi cùng phải nghỉ việc để chăm sóc các cháu. Xin hỏi chế độ nghỉ chăm sóc con ốm như thế nào? Tôi có được nghỉ hưởng chế độ để chăm sóc các cháu hay chỉ có vợ tôi được hưởng ? Phạm Việt Thanh HVT.@gmail.com
(30/10/2013) 
* Trả lời:          
            Điều 24 Luật Bảo hiểm xã hội quy định: Thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau trong một năm được tính theo số ngày chăm sóc con, tối đa là hai mươi ngày làm việc nếu con dưới ba tuổi; tối đa là mười lăm ngày làm việc nếu con từ đủ ba tuổi đến dưới bảy tuổi.
            Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội, nếu một người đã hết thời hạn hưởng chế độ mà con vẫn ốm đau thì người kia được hưởng chế độ theo quy định trên đây.
            Công văn số 481/BHXH-CSXH của Bảo hiểm xã hội VN cũng nêu rõ: Trường hợp cả người cha và người mẹ cùng tham gia BHXH mà trong cùng khoảng thời gian có từ 02 con trở lên bị ốm đau, nếu cả người cha và người mẹ cùng nghỉ việc để chăm sóc các con ốm đau và giấy tờ khám bệnh của con có ghi tên người cha hoặc người mẹ nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau thì giải quyết hưởng chế độ ốm đau đối với người lao động có tên trong giấy tờ khám bệnh của mỗi con.
            Như vậy, ngoài vợ ông được nghỉ hưởng chế độ chăm sóc con ốm, bản thân ông cũng được nghỉ hưởng chế độ chăm sóc con ốm theo quy định./.
 
* Câu hỏi:
            Vợ tôi là giáo viên giảng dạy tại trường THCS An Thới, Trảng Bàng, Tây Ninh. được nghỉ hậu sản từ ngày 26/4/2013 đến hết ngày 26/10/2013. Thời gian nghỉ hậu sản trùng với thời gian nghỉ hè 2 tháng. Vậy vợ tôi có được nghỉ bù hay không? và được hưởng trợ cấp gì khác chế độ thai sản hay không? Nguyễn Văn Bờ (nguyenvanbo77@gmal.com)
 (24/9/2013)
* Trả lời:
            Luật Bảo hiểm xã hội quy định đối với thời gian hưởng chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu; thời gian hưởng chế độ khi sinh con; thời gian hưởng chế độ khi thực hiện các biện pháp tránh thai tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần và không có quy định nghỉ bù.
            Như vậy, đối với giáo viên không được nghỉ bù nếu có thời gian nghỉ thai sản trùng với thời gian nghỉ hè và cũng không có trợ cấp gì khác ngoài chế độ thai sản theo quy định.

 

* Câu hỏi:
              Tôi được biết ở TP.HCM có chế độ chi trả bảo hiểm cho phụ nữ mang thai nhưng do thai lưu, thai đa dị tật, sẩy thai...nếu có chứng từ đều được chi trả một số tiền nhất định cho bệnh nhân. Vợ tôi hiện công tác tại Tây Ninh, mang thai được 4 tháng nhưng do thai đa dị tật phải bỏ (có giấy tờ chứng minh), vậy quý Bảo hiểm Tây Ninh cho tôi hỏi, trường hợp của vợ tôi có được hưởng chế độ gì không?    Hai Ngo <haihanhchinh2013@yahoo.com>
 (12/9/2013)
* Trả lời:
              Điều 30, 31 Luật BHXH quy định thời gian và mức hưởng chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu:
              Khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu thì lao động nữ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản mười ngày nếu thai dưới một tháng; hai mươi ngày nếu thai từ một đến dưới ba tháng; bốn mươi ngày nếu thai từ ba tháng đến dưới sáu tháng; năm mươi ngày nếu thai từ sáu tháng trở lên.
Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định tại Điều này tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần.
Mức hưởng bằng 100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH của sáu tháng liền kề trước khi nghỉ việc.
Trường hợp vợ bạn, thai được 4 tháng do dị tật phải bỏ nên được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản bốn mươi ngày.
Đề nghị bạn đem giấy ra viện hoặc giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH (mẫu C65-HD) của vợ nộp cho cơ quan nơi vợ bạn công tác và cơ quan đó có trách nhiệm liên hệ cơ quan BHXH để giải quyết chế độ cho vợ bạn theo quy định.
 
* Câu hỏi:
Trường hợp nào được nghỉ thai sản 6 tháng theo quy định của Bộ luật Lao động? Có phải chế độ này chỉ áp dụng đối với lao động nghỉ sinh từ ngày 1/5/2013? (Huỳnh Phương Anh)
(30/7/2013)
* Trả lời: 
Theo quy định tại Điều 157 Bộ luật lao động sửa đổi năm 2013 thì lao động nữ đáp ứng đủ điều kiện về thời gian đóng BHXH theo quy định của luật BHXH sẽ được nghỉ hưởng chế độ  thai sản 6 tháng. Quy định về thời gian nghỉ chế độ thai sản 6 tháng đối với lao động nữ có  hiệu lực thi hành từ ngày 1/5/2013.
Theo quy định tại Điểm b Khoản 2, Điều 240 Bộ luật lao động sửa đổi thì: Đối với lao động nữ nghỉ sinh con trước ngày Bộ luật lao động có hiệu lực thi hành mà đến ngày 1/5/2013 vẫn đang trong thời gian nghỉ sinh con theo quy định tại Luật BHXH thì thời gian nghỉ hưởng chế độ khi sinh con được thực hiện theo quy định của Bộ luật lao động (6 tháng).

 

* Câu hỏi:
Tôi công tác tại một Công ty TNHH, có thai được 2 tháng thì bị sấy thai. Sau khi nghỉ được 15 ngày, do yêu cầu công việc tôi đi làm lại. Công ty thanh toán chế độ sẩy thai cho tôi là 15 ngày. Xin hỏi như vậy có đúng không? (được biết Luật quy định là 20 ngày).  hoamocmien@gmail.com
 (29/07/2013)
*Trả lời:
Điều 30 Luật BHXH quy định: “Khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu thì lao động nữ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản mười ngày nếu thai dưới một tháng; hai mươi ngày nếu thai từ một tháng đến dưới ba tháng; bốn mươi ngày nếu thai từ ba tháng đến dưới sáu tháng; năm mươi ngày nếu thai từ sáu tháng trở lên.
Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định tại Điều này tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần.”
Tại điếm 1.2 mục 1 phần II công văn số 481/BHXH-CSXH, ngày 29/01/2013 của BHXH Việt Nam về việc hướng dẫn thực hiện chính sách BHXH quy định: “Lao động nữ bị sẩy, nạo, hút thai, thai chết lưu và người lao động khi thực hiện các biện pháp tránh thai thì thời gian hưởng các chế độ BHXH theo số ngày thực tế người lao động nghỉ việc, nhưng không quá số ngày được nghỉ theo quy định của Luật BHXH”.
Như vậy, theo chế độ quy định thì bạn được nghỉ 20 ngày, nhưng thực tế bạn chỉ nghỉ 15 ngày đã đi làm lại, cho nên Công ty thanh toán chế độ cho bạn 15 ngày là đúng quy định.

 

* Câu hỏi:

          Tôi tên là Phạm Thị Thi, hiện là giáo viên đang công tác tại trường tiểu học Tiên Thuận C thuộc huyện Bến Cầu, có thời gian đóng BHXH từ năm 2001 cho đến nay, mức lương hiện hưởng trước khi nghỉ hậu sản là 2.67. vào ngày 7/1/2013 tôi có làm đơn xin nghỉ hậu sản, đến ngày 27/1/2013 thì sinh con và đến ngày 5/2/2013 thì tôi hoàn tất các loại hồ sơ nộp cho kế toán nhà trường để chuyển cho BHXH huyện, đến ngày 11/4/2013 được thanh toán chế độ BHXH là 11.214.000 đồng, cho đến nay tôi đã đi làm trở lại từ ngày 7/5/2013 nhưng số tiền còn lại vẫn chưa được thanh toán. Vậy xin hỏi nguyên nhân vì sao tôi chưa được thanh toán hết chế độ BHXH mà tôi được hưởng theo quy định của Luật BHXH ? Trân trọng cám ơn !
 (25/6/2013)
* Trả lời:
          Công văn số 1477/BHXH-CSXH, ngày 23/4/2013 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam hướng dẫn thực hiện chế độ thai sản theo quy định của Bộ luật lao động số 10/2012/QH13 quy định: Lao động nữ nghỉ sinh con trước ngày 01/5/2013, mà đến ngày 01/5/2013 vẫn đang trong thời gian nghỉ sinh con theo quy định tại Luật BHXH thì thời gian hưởng chế độ khi sinh con như nêu tại Khoản 1, Điều 157 Bộ Luật lao động (lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con là 6 tháng).
          Bạn nghỉ sinh từ ngày 7/1/2013 nên bạn được nghỉ hưởng chế độ là 6 tháng. Trong tháng 4/2013 trường đã làm hồ sơ đề nghị BHXH huyện Bến Cầu thanh toán chế độ hậu sản cho bạn là 4 tháng, đề nghị đơn vị liên hệ BHXH huyện Bến Cầu để thanh toán 2 tháng còn lại cho bạn theo quy định.
 

         * Câu hỏi:

Tôi công tác đến nay đã gần 20 năm và hầu như không phải nghỉ ốm. Cho đến ngày 25/3/2013 tôi đi khám bệnh và phát hiện bị lao phổi. Bệnh viện cho điều trị ngoại trú tại nhà và không tổ chức hội chẩn. Nghe nói tôi chỉ được hưởng chế độ ốm đau bình thường mà không được hưởng chế độ bệnh dài ngày do không có giấy ra viện và không có phiếu hội chẩn. Thời gian nghỉ ốm này cơ quan không trả lương, vậy tôi phải làm sao để được hưởng chế độ?
(14/06/2013)
          * Trả lời:
Tại Khoản 2.2 Mục 2 Phần II công văn số 481/BHXH-CSXH ngày 29/01/2013 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam quy định: Trường hợp người lao động mắc bệnh cần chữa trị dài ngày mà cơ sở y tế không phải hội chẩn theo quy định của Bộ Y tế thì Phiếu hội chẩn hoặc Biên bản hội chẩn của bệnh viện quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 8 Quy định về hồ sơ và quy trình giải quyết hưởng các chế độ BHXH ban hành kèm theo Quyết định số 777/QĐ-BHXH ngày 17/5/2010 được thay bằng bản sao hồ sơ bệnh án thể hiện bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày và xác nhận của cơ sở y tế nơi điều trị về thời gian người lao động nghỉ việc để điều trị.
Như vậy, nếu không có Giấy ra viện hoặc Biên bản hội chẩn của bệnh viện, bạn sao hồ sơ bệnh án có xác nhận của cơ sở y tế nơi điều trị nộp cho cơ quan để được hưởng chế độ bệnh dài ngày theo quy định.

 

* Câu hỏi:
Tôi công tác và tham gia BHXH trên 12 năm. Do không thể sinh con, tôi dự tính xin con nuôi sơ sinh nhưng vẫn đi làm bình thường (do đặc thù công việc không nghỉ việc để chăm con), nhờ người nhà chăm sóc bé. Xin hỏi như vậy tôi được hưởng chế độ như đối với người sinh con hay không ?
(11/6/2013)
* Trả lời:
Công văn số 3527/BHXH-CĐCS ngày 21/9/2007 của bảo hiểm xã hội Việt Nam hướng dẫn một số nội dung thực hiện BHXH từ 01/01/2007 quy định:
Trường hợp người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi mà có đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi nhận nuôi con nuôi, nhưng không nghỉ việc để nuôi con thì chỉ được hưởng trợ cấp một lần khi nhận nuôi con nuôi bằng 2 tháng lương tối thiểu chung cho mỗi con.

 

* Câu hỏi:
Anh tôi 49 tuổi, công tác được 22 năm 8 tháng. Hiện tại bị tai biến liệt nửa người, điều trị hơn 5 tháng nay không khỏi, cơ quan cắt lương, chỉ thanh toán chế độ ốm bình thường nên gia đình gặp nhiều khó khăn. Xin hỏi như vậy anh tôi có được hưởng chế độ bệnh dài ngày không? Nếu xin nghỉ việc thì có được hưởng chế độ BHXH một lần không ?   (Lê Văn Trọng, Gò Dầu).
(03/6/2013)
* Trả lời:
Thông tư số 33/TT-LB, ngày 25/6/1987 của Bộ Y tế và Tổng Công đoàn Việt Nam quy định về những bệnh cần chữa trị dài ngày trong đó có bệnh “di chứng do tai biến mạch máu não”. Do đó nếu anh bạn bị bệnh tai biến thì không được hưởng chế độ bệnh dài ngày mà theo quy định của Luật BHXH chỉ được nghỉ hưởng chế độ ốm đau là 40 ngày/năm.
Nếu xin nghỉ việc thì không được hưởng BHXH một lần mà được bảo lưu thời gian đóng BHXH cho đến khi đủ 50 tuổi hưởng lương hưu với mức thấp hơn khi được Hội đồng Giám định Y khoa xác định suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên. (theo quy định của Luật BHXH nếu có thời gian đóng BHXH đủ 20 năm trở lên không được hưởng BHXH một lần, trừ trường hợp ra nước ngoài để định cư).
 
Câu hỏi:
Tôi công tác và tham gia BHXH tại TP HCM từ tháng 02/2010 đến hết tháng 8/2012 nghỉ việc về quê ở Trảng Bàng, Tây Ninh. Tháng 12/2012 tôi sinh con. Xin hỏi tôi có được hưởng chế độ thai sản không? Nếu có thì liên hệ ở đâu và thủ tục thế nào? (Hoàng Thị Thanh Thủy)
(17/5/2013)
 
            Trả lời:
           Điều 28 Luật Bảo hiểm xã hội quy định về điều kiện để hưởng chế độ thai sản như sau: Lao động nữ sinh con; người lao động nhận nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ sáu tháng trở lên trong thời gian mười hai tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.
            Như vậy, bạn đủ điều kiện để hưởng chế độ thai sản. Đề nghị bạn liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện Trảng Bàng để được giải quyết chế độ. Hồ sơ thủ tục như sau:
-        Sổ bảo hiểm xã hội của người mẹ;
-        Giấy chứng sinh (bản sao) hoặc Giấy khai sinh (bản sao) của con;
-        Đơn của người lao động nữ sinh con (mẫu số 11B-HSB).
 

 * Câu hỏi:

Em ở Quận 5 TP HCM, làm việc tại Khu công nghiệp Trảng Bàng, tham gia BHXH từ năm 2010 đến đầu tháng 02/2013 thì nghỉ việc, ngưng đóng BHXH, em mang thai đến tháng 10/2013 sinh em bé. Hiện tại em đã làm xong thủ tục và đang hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp. Vậy em có được hưởng trợ cấp thai sản không? (có thông tin là đã hưởng trợ cấp thất nghiep thì không được hưởng trợ cấp thai sản nữa). Nếu được thì thủ tục, hồ sơ như thế nào ?  nộp ở đâu? xin cảm ơn. (Nguyễn Thị Vân)
 
(14/5/2013)
 
* Trả lời: 
            Tại Điều 28 Luật Bảo hiểm xã hội quy định về điều kiện để hưởng chế độ thai sản như sau: Lao động nữ sinh con; người lao động nhận nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ sáu tháng trở lên trong thời gian mười hai tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.
            Như vậy, bạn nghỉ việc, ngừng đóng BHXH từ đầu tháng 2/2013 đến tháng 10/2013 mới sinh con, do đó trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con bạn tham gia BHXH chưa đủ 6 tháng nên không đủ điều kiện để hưởng chế độ thai sản.
 
 

 * Câu hỏi:

          Tôi công tác tại một cơ quan HCSN, nghỉ việc trước khi sinh con từ ngày 01/01/2013, nhưng đến ngày 05/01/2013 tôi mới sinh. Bạn tôi nói, tôi  được nghỉ hưởng chế độ thai sản 6 tháng. Xin hỏi như vậy có đúng không ?

(06/5/2013)

 * Trả lời:
           Bộ luật lao động có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2013, tại Điều 240 nêu rõ: lao động nữ nghỉ sinh con trước ngày Bộ luật này có hiệu lực, mà đến ngày 01/05/2013 vẫn đang trong thời gian nghỉ sinh con theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội thì thời gian hưởng chế độ sinh con được thực hiện theo quy định của Bộ luật này.
Như vậy, theo quy định của Luật BHXH chị nghỉ sinh con từ ngày 01/01/2013 đến ngày 30/4/2013 (4 tháng). Từ ngày 01/5/2013, chị đã hết thời gian nghỉ sinh con nên chị không thuộc đối tượng được thực hiện thời gian hưởng chế độ thai sản theo quy định của Bộ luật lao động./.
 

* Câu hỏi:

Tôi nghỉ việc trước khi sinh con từ ngày 05/01/2013. Theo Luật BHXH đến ngày 05/5/2013 là 4 tháng. Tuy nhiên, tôi được biết có quy định nữ sinh con được nghỉ 6 tháng. Đề nghị cơ quan BHXH cho biết tôi được nghỉ như thế nào?
(02/5/2013)
 
 * Trả lời:
             Theo công văn số 1477/BHXH-CSXH ngày 23/4/2013 của BHXH VN hướng dẫn thực hiện chế độ thai sản theo quy định của Bộ luật lao động số 10/2012/QH/13 nêu rõ:
Lao động nữ nghỉ sinh con trước ngày 01/5/2013, mà đến ngày 01/5/2013 vẫn đang trong thời gian nghỉ sinh con theo quy định tại Luật BHXH thì thời gian hưởng chế độ trước và sau khi sinh con là 6 tháng.
Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng. Thời gian nghỉ trước khi sinh tối đa không quá 02 tháng.
Như vậy, chị nghỉ sinh con từ ngày 05/01/2013 đến ngày 01/5/2013 vẫn đang trong thời gian nghỉ sinh con theo quy định của Luật BHXH nên chị được tiếp tục nghỉ việc hưởng chế độ thai sản đến hết ngày 04/7/2013 (tổng cộng thời gian hưởng chế độ thai sản là 6 tháng).

 

* Câu hỏi:

Tôi là Lê Thị Thu Hà, công nhân KCN Trảng Bàng, tham gia BHXH tháng 02/2012 đến tháng 02/2013 vì sức khỏe yếu xin nghỉ việc về quê tại Bình thuận, dự kiến tôi sẽ sinh con vào tháng 4/2013, vậy tôi có được hưởng chế độ thai sản hay không? Nếu có làm thế nào để được hưởng chế độ ?
(26/4/2013) 
* Trả lời:
            Tại Điều 28 luật BHXH quy định điều kiện hưởng chế độ thai sản là phải đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con. Như vậy, nếu bạn sinh con trong tháng 4/2013 thì bạn được hưởng chế độ thai sản.
            Đề nghị bạn nộp sổ BHXH; giấy chứng sinh hoặc giấy khai sinh (bản sao) của con; đơn đề nghị hưởng chế độ thai sản (mẫu số 11B-HSB) tại BHXH nơi bạn cư trú để được hưởng chế độ.
 
* Câu hỏi:

           Tôi nghỉ thai sản từ ngày 05 tháng 3/2013, và cũng từ ngày 01 tháng 3/2013 tôi được nâng bậc lương với hệ số 3.66. Xin hỏi khi tính chế độ thai sản, tôi có được tính căn cứ theo mức lương mới đó hay không ?

(02/04/2013) 

* Trả lời:
          Tại Điều 16 Nghị định số 152/2006/NĐ-CP, ngày 22/12/2006 của Chính Phủ quy định: “Mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội làm cơ sở tính hưởng chế độ thai sản theo khoản 1 Điều 35 Luật Bảo hiểm xã hội là mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc.

          Trường hợp người lao động đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ 6 tháng thì mức hưởng chế độ thai sản khi đi khám thai, khi sẩy thai, nạo, hút hoặc thai chết lưu, thực hiện các biện pháp tránh thai theo quy định tại các Điều 29, 30 và Điều 33 Luật Bảo hiểm xã hội là mức bình quân tiền lương, tiền công tháng của các tháng đã đóng bảo hiểm xã hội.”

          Như vậy, hệ số lương 3.66 không được tính để hưởng chế độ thai sản.
 

* Câu hỏi:

           Tôi là giáo viên, sẽ nghỉ thai sản từ tháng 5/2013, vừa qua nghe nhà trường thông báo có chế độ nghỉ thai sản mới là 6 tháng, như vậy có đúng không ? Áp dụng theo quy định nào ?

(02/4/2013) 

* Trả lời:

            Trường hợp bạn hỏi về chế độ nghỉ thai sản 6 tháng là đúng, nhưng trong khi chờ các văn bản hướng dẫn, hiện tại vẫn thực hiện theo quy định tại Điều 15, Nghị định 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ, cụ thể như sau:

          a)  4 tháng, nếu làm nghề hoặc công việc trong điều kiện lao động bình thường;
          b) 5 tháng, nếu làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc theo chế độ 3 ca; làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên;
          c) 6 tháng đối với lao động nữ là người tàn tật có mức suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên.

          d) Trường hợp sinh một lần từ 2 con trở lên, ngoài thời gian nghỉ việc quy định tại điểm a, b, c khoản này thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con lao động nữ được nghỉ thêm 30 ngày.

* Câu hỏi:

          Trước đây Tôi làm việc ở doanh nghiệp, sau đó tôi nghỉ việc và hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội một lần. Nghỉ việc được 4 năm tôi lại tiếp tục xin vào làm việc tại một đơn vị khác, tính đến tháng 2 năm 2013 thời gian được 6 năm, tôi không lập gia đình nhưng có ý định xin con nuôi, cháu bé được 20 ngày tuổi. Xin hỏi tôi có được hưởng chế độ thai sản không,  mức hưởng như thế nào? Và việc thanh toán ra sao?

(30/01/2013)
 
* Trả lời:
          Luật BHXH quy định: người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi thì được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ bốn tháng tuổi. Mức hưởng bằng 100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc. Ngoài ra, được trợ cấp BHXH một lần bằng hai tháng lương tối thiểu chung.
          Việc thanh toán trợ cấp nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi: căn cứ vào quyết định công nhận việc nuôi con nuôi của cấp có thẩm quyền, không căn cứ vào giấy thỏa thuận về việc cho và nhận nuôi con nuôi. Thời gian hưởng trợ cấp thai sản tính từ ngày có quyết định công nhận việc nuôi con nuôi.
            Để được thanh toán tiền theo qui định, Bạn nộp Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi của cấp có thẩm quyền cho đơn vị nơi bạn đang làm việc, đơn vị sẽ liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để giải quyết.

 

 * Câu hỏi:  

           Em gái tôi là công nhân, tham gia BHXH từ tháng 4/2010 đến tháng 10/2012 sinh con, nhưng sau khi sinh chẳng may em tôi bị chết. Xin hỏi vậy em tôi có được hưởng chế độ thai sản không?

(02/01/2013)

* Trả lời:
          Theo khoản 3, Điều 15 Nghị định số 152/2006/NĐ-CP và khoản 3 mục II Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH, ngày 30/01/2007 của Bộ lao động-Thương binh và Xã hội quy định:
Trường hợp chỉ cha hoặc mẹ tham gia bảo hiểm xã hội hoặc cả cha và mẹ đều tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết sau khi sinh con, thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 4 tháng tuổi.
           Vậy cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng cháu bé được hưởng chế độ thai sản và mức hưởng chế độ thai sản được tính trên cơ sở mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH của 6 tháng liền kề trước khi làm việc của mẹ.
 
* Câu hỏi: 
            Hai vợ chồng tôi cùng công tác ở một cơ quan HCSN, tham gia BHXH được gần 5 năm, có con nhỏ thường xuyên bị ốm đau. Xin hỏi chế độ nghỉ chăm sóc con ốm đau được thực hiện như thế nào?
(02/01/2013)
* Trả lời:
Điều 24 Luật BHXH quy định:
          1- Thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau trong một năm được tính theo số ngày chăm sóc con, tối đa là hai mươi ngày làm việc nếu con dưới ba tuổi; tối đa là mười lăm ngày làm việc nếu con từ đủ ba tuổi đến dưới bảy tuổi.

           2- Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội, nếu một người đã hết thời hạn hưởng chế độ mà con vẫn ốm đau thì người kia được hưởng chế độ theo quy định tại khoản 1 Điều này.

 

* Câu hỏi:

        Tôi mới xin vào làm việc tại một Công ty thuộc Khu Chế xuất Linh Trung III có tham gia BHXH từ tháng 12/2012, chẳng may tôi bị bệnh, phải nằm viện 5 ngày, vậy tôi có được hưởng chế độ ốm đau theo quy định của Luật BHXH không?

(25/12/2012)

* Trả lời:
          Nghị định 152/2006/NĐ-CP, ngày 22/12/2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc quy định: Người lao động được hưởng chế độ ốm đau ngay trong tháng đầu tham gia bảo hiểm xã hội; mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội làm cơ sở tính hưởng chế độ ốm đau là mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của chính tháng đó. Như vậy, trường hợp của bạn vẫn được hưởng chế độ ốm đau theo quy định.

 

          Ngoài ra, Thông tư số 23/2012/TT-BLĐTBXH, ngày 18/12/2012 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cũng quy định: Trường hợp người lao động trước đó đã có thời gian đóng bảo hiểm xã hội sau đó gián đoạn rồi trở lại làm việc mà ốm đau ngay trong tháng đầu trở lại làm việc và đóng bảo hiểm xã hội thì mức tiền lương, tiền công làm cơ sở tính hưởng chế độ ốm đau là mức tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của chính tháng đó.
 

* Câu hỏi:

           Tôi được biết Luật BHXH quy định nữ đặt vòng tránh thai được nghỉ 7 ngày. Tuy nhiên, tôi mới vào làm công nhân, tham gia BHXH từ tháng 9/2012 với mức tiền lương là 2.800.000đồng. Xin hỏi nếu tôi muốn thực hiện đặt vòng tránh thai thì có được hưởng chế độ gì không? Và nếu có thì mức hưởng là bao nhiêu? (lenguyen@yahoo.com)

(05/12/2012) 

* Trả lời:
         Tại mục II Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30/01/2007 của Bộ Lao động thương binh xã hội Hướng dẫn một số điều của Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc quy định:
          “Trường hợp người lao động hưởng chế độ thai sản khi đi khám thai, khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu, thực hiện các biện pháp tránh thai ngay trong tháng đầu tham gia bảo hiểm xã hội, thì lấy mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của chính tháng đó để làm cơ sở tính hưởng chế độ”.
 
          Như vậy, bạn được lấy mức tiền lương tháng 9/2012 là 2.800.000đồng để làm cơ sở tính hưởng chế độ. Cụ thể mức hưởng như sau:
 

           2.800.000đồng /26 ngày x 100% x 7 ngày = 753.846 đồng.

 

* Câu hỏi:

         Tôi công tác trong ngành Giáo dục được 5 năm và có tham gia BHXH được 4 năm 8 tháng, gần đây tôi được biết Luật BHXH có chế độ nghỉ dưỡng sức. Hiện nay tôi sinh con đã được 12 tháng nhưng chưa được hưởng. Xin hỏi bây giờ tôi có được hưởng chế độ dưỡng sức không? Nếu có thì phải làm thế nào để được hưởng chế độ đó? (Nguyễn Thị Hà)

(04/12/2012)

* Trả lời:
          Theo Điều 37 Luật Bảo hiểm xã hội; Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006, Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH của Bộ LĐTBXH ngày 30/01/2007 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 152/NĐ-CP, thông tư số 19/2008/TT-BLĐTBXH của Bộ LĐTBXH ngày 23/9/2008 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH thì:
         “…Trong khoảng thời gian gian 60 ngày, tính từ thời điểm lao động nữ trở lại làm việc sau khi hết thời gian hưởng chế độ khi sinh con mà sức khỏe còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khỏe”.
 
          Trường hợp của Chị, đã sinh con được 12 tháng, tức là đã quá 60 ngày tính từ thời điểm chị trở lại làm việc sau khi hết thời gian hưởng chế độ sinh con theo quy định. Do đó, chị không đủ điều kiện để hưởng chế độ nghỉ DSPHSK sau thai sản.
Lượt người xem:  Views:   1312
Chia sẻ:
Share:
Tin khác
 
 
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Nội dung

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Số Trang

Số Ảnh

Số tiền

Tin liên quan

Audio

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức Mở Rộng
Version:
Created at by
Last modified at by
Hỏi đáp